Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

ĐỂ "BÁCH NIÊN GIAI LÃO"

                                                              MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU  
                                                                    
II  ĐÔNG Y 2 TRONG 1 GIÚP BẠN TRƯỜNG THỌ 

1—Đông y 2 trong 1 là gì
2--- Những bài thuốc đông y 2 trong 1                            
  1-Huyết áp                                                                     
      1.Đôi nét về huyết áp                                                 
      2.Tăng huyết áp – kẻ thù số 1 của nhân loại               
      3.Huyết áp thấp thì sao?
  2-Đột quỵ tai biến mạch máu não
      a/ Đột quỵ là gì?
      b/ Nguyên nhân dẫn đến đột qụy
      c/ Triệu chứng của đột quỵ
      d/ Phòng tránh các cơn đột quỵ bất ngờ
      e/ Những bài thuốc chữa đột quỵ
         1. Sơ cứu ban đầu
         2. Bài thuốc đắp chân phòng chống đột quỵ
 3- Ung thư
       1..Ung thư là gì
       2..Những triệu chứng gây ung thư thường gặp
       3..Những thực phẩm gây ung thư hàng đầu
       4..Điều trị ung thư
       5..Những hệ lụy
       6..Thày thuốc khuyên gì?
       7..Bài thuốc phòng chống ung thư – bách hoa xà thiệt thảo  
          1/ Bạch hoa xà thiệt thảo
          2/ Bán chi liên
          3/ Một số kinh nghiệm dùng bán chi liên và bách hoa xà thiệt thảo trị các bệnh ung thư
          4/ Hiệu quả thực tế của bài thuốc
          5/ Những lưu ý khi sử dụng
       8..Bài thuốc chống ung thư Quý tô tử - Mạch chủ
       9.. Bài thuốc trị nhiều chứng bệnh…
      10.. Muốn tránh ung thư, đột quỵ hãy ăn vải thiều
      11.. Khoai môn – món ăn kỳ diệu trị ung thư
      12.. Rượu tỏi – Bài thuốc WHO khuyên dùng trọn đời
      13.. Tỏi đen - chế biến, công dụng
      14.. Bồ công anh và giảo cổ lam
         1 Bồ công anh
         2 Giảo cổ lam
         3 Sự thật giảo cổ lam
         4 Từ giảo cổ lam biết thế nào là bí mật gia truyền
      15.. Bài thuốc chữa ung thư vú
     16.. Fucoidan tiêu diệt tế bào ung thư  
      17.. Những lợi ích bất ngờ từ mãng cầu xiêm

III  PHÒNG BỆNH – CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ SỐNG THỌ

 1--- Lời khuyên dành cho mọi người
        Phần I – Quan niệm
        Phần II – Tu thân – Dưỡng tâm
2--- Y tế dự phòng nền tảng của y khoa hiện đại
3--- Vài nét về y tế công cộng
4--- Hãy tin vào Vác xin
5--- Bố mẹ càn biết 12 liều vác xin cho trẻ

IV  KINH NGHIỆM DÂN GIAN

1.Chuyển đổi từ rượu bia, thuốc lá sang vang và nếp cẩm
    A- Đôi nét về rượu bia
    B- Những căn cứ
       1- Bí quyết sống thọ của dân Ikaria
       2- Uống rượu vang đỏ có lợi cho tim mạch
       3- Vang đỏ hành tây – thuốc hạ mỡ máu
       4- Cơm rượu nếp cẩm
       5- Uống tinh bột tam thất nghệ vàng cho đúng
         a/ Tam thất có 2 loại
         b/ Nghệ đen và nghệ vàng
   C- Lời khuyên
2. Những chú ý
        1/ Về mật ong
             1-Dùng mật ong chữa bệnh
             2-Mặt trái của mật ong       
        2/ Về tương kỵ thực phẩm
        3/ Về chuối tiêu
 3. Khi nóng hãy uống ngay tinh bột sắn dây
 4. Ho dai dẳng lâu ngày đã có gừng – mật ong
 5. Dân gian chữa gout
 6. Cảm lai rai – thương hàn gõ cửa
 7. Tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng
 8. Gan thải độc cơ thể - Hãy bảo vệ gan
 9. Trà cây sả
10. Trái sung – vị thuốc dân gian tuyệt hảo
11. Dưa bắp cải không gây bệnh mà ngừa ung thư
12. Những lý do để bạn tăng cường ăn đậu
13. Những thồng kê để bạn tham khảo
14. Những nước uống thần tiên
    1/ Bạn sẽ sống hơn trăm tuổi chỉ với 1 ly nước ép
    2/ 6 ‘nên’ khi uống nước chanh vào buổỉ sáng
    3/ Cứu mạng sống của người cao huyết áp
    4/ Thức uống giúp ổn định huyết áp cao
    5/ Diệt mọi tế bào ung thư với 4 muỗng canh hỗn hợp thần kỳ
    6/ Uống nước lá soài non phòng bệnh tiểu đường
    7/ Công thức tiêu diệt tế bào ung thư di căn trong vòng 72 giờ - Mật ong + Lô hội
    8/ Trà gừng – thần dược cho mùa lạnh
    9/ Nước uồng thần tiên
   10/ Nước lọc hay nước sôi để nguội
   11/ Trà ngải cứu thải độc gan
   12/ Nước thần cho người hút thuốc lá
   13/ Tống sỏi thận ra ngoài
   14/ Ly nước bí truyền giúp khai thông tim mạch
15.Thuốc trường thọ
16..Đông Tây y kết hợp – Cách điều trị tuyệt vời
17. Bài thuốc trị chứng thiểu năng tuần hoàn não 
18. Cây óc chó
19. Quả la hán

V TỔNG KẾT

 Trang ghi chép của bạn


                                                      I -  MỞ ĐẦU
Đôi nét về tác giả
Tác giả Đan Mạnh Hùng sinh ngày 02 – 10 – 1948 tại Sông Nội (Hà Nội), An Đổ, Bình Lục, Hà Nam.
Tháng 7 năm 1965 nhập Thanh Niên Xung Phong C456 - đội 25 Quảng Bình. Năm 1966 chuyển sang bộ đội, công tác tại C5-D33-BT32-Đoàn 559, chiến đấu tại Đường 9 – nam Lào. 1969 bị thương. 1970 xuất ngũ. 1971 học K16 - khoa Toán cơ – Tin học trường Đại học Tổng Hợp (nay là trường đại học Quốc gia Hà Nội). 1976 nhận công tác tại Công Ty Dệt 8-3. Năm 2000 về hưu. Năm 2013 đột quỵ tai biến mạch máu não. Nằm viện cùng 5 người đột quỵ, 4 người ung thư đều là bạn thân thiết của mình. Suýt chết trở về, sưu tầm những bài thuốc đã chữa cho mình, cho bạn mình, viết lại trong những cuốn sách để cùng chia sẻ.
Về những cuốn sách
1 Đột quỵ tai biến mạch máu não và những bài thuốc dân gian nên biết: NXB Y Học – 352 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội. Tháng 4 năm 2014.
2  Đông y kỳ diệu và giải mã vài bài thuốc dân tộc gia truyền: NXB Y Học – 352 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội. Tháng 7 năm 2014.
3  Những bài thuốc quý chữa bệnh thường gặp: NXB Văn Hóa Dân Tộc – 19 Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hà Nội. Tháng 5 năm 2016.
4 Quà tặng sức khỏe: NXB Văn Hóa Dân Tộc – 19 Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hà Nội. Tháng 6 năm 2016.
Hôm nay, tổng kết lại trong cuốn ‘Để “Bách niên giai lão”, tìm con đường đến tuổi thọ 90, 100. Cầu chúc điều đó trở thành sự thực cho tất cả mọi người.
Những chữ viết tắt trong sách:
VN. TQ: Việt Nam, Trung Quốc
Bộ GD & ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
TPCN: Thực phẩm chưc năng
HA: huyết áp. g: gam. h: giờ.
PGS, GS, TSKH., Ths, BS: Phó Giáo sư, Giáo sư,  
                      Tiến sỹ khoa học, Thạc sỹ, Bác sỹ.
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
DNA: (còn được gọi là ADN – Acid deoxyribonucleic)
CAM: Hỗ trợ và thay thế
TTXVN: Thông Tấn Xã Việt Nam
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
Các đại dịch: SARS, HIV
Và các thuật ngữ Y tế về vắc xin: HPV, DTaP, MMR, HiB, IPV, PCV, RV, PLU, MCV4, RV, HPV
            II – ĐÔNG Y 2 TRONG 1
            GIÚP BẠN HƯỞNG THỌ

1—Đông y 2 trong 1 là gì?
Tôi gọi những bài thuốc Đông y vừa có tác dụng phòng bệnh, vừa có tác dụng chữa bệnh là thuốc Đông y 2 trong 1. Nôm na nghĩa là trong 1 bài thuốc có tới 2 công dụng, vừa phòng, vừa chữa.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ta sinh ra và lớn lên, cũng chỉ mong một đời tươi đẹp. Dù cho xã hội có biết bao cạnh tranh, người ta mong muốn có xe hơi, nhà lầu, hơn thế còn mong chức nọ, chức kia thì việc mong cầu sức khỏe là quan trọng số 1. Có sức khỏe là có tất cả.
Nằm trên giường bệnh ngáp dài, mới thấy ý nghĩa lớn lao của những ngày tự do, tung tăng bươn chải. Cần lắm những ước mơ để thả hồn trong tương lai tươi sáng. Trong số đó, có ước mơ về một sức khỏe tuyệt vời cho chính mình. Mọi người bình đẳng trước pháp luật. Thế còn Y học thì sao? Sức khỏe bình đẳng với mọi người! Nó quan trọng đến mức, mọi người sẵn sàng bỏ tiền ra mua nó dù biết rằng “khuynh gia bại sản”, hoặc “còn nước còn tát”. Vậy có cách gì để giữ sức khỏe lại trong ta? Đi tìm lời giải, tôi đã thấy một phần trong đó. Phải chăng vì chính sự đề phòng của mỗi chúng ta? Trên con đường gìn giữ sức khỏe, những bài thuốc đông y là trợ thủ đắc lực. Cuốn sách đã được tôi tóm lược nhiều bài thuốc dự phòng cho tôi, cho bạn, hơn thế, nó còn chuyển tải những lời khuyên từ Giáo sư – bác sỹ nổi tiếng, người Trung Quốc, Hồng Chiêu Quang cho sức khỏe của bạn được thịnh vượng.
Mua 1 cuốn sách, bạn được những 2. Hơn thê, những bài thuốc là cơ hội đến với tôi. Cơ hội ấy được chia sẻ với tất cả. Hy vọng cuốn sách sẽ là tư liệu quý cho mọi người. Những thứ mà nếu không biết, hoặc chậm trễ thi ân hận cả đời. Hãy trân trọng sức khỏe của chính mình và hãy đọc nó, làm theo nó vì sức khỏe của chính chúng ta. Kính chúc các bạn sức khỏe.  

2—Những bài thuốc đông y 2 trong 1:

                        1-HUYẾT ÁP:
1.Đôi nét về huyết áp:
    Huyết áp là số đo về lực tác động của máu lên thành động mạch. Huyết áp phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước cũng như độ đàn hồi của thành động mạch. Huyết áp liên tục thay đổi tùy theo hoạt động, nhiệt độ, chế độ ăn, cảm xúc, tư thế, và sử dụng thuốc.
Các số đo huyết áp thường được tính bằng milimét thủy ngân (mmHg).Ví dụ 110 trên 70 (110/70 mmHg). Huyết áp bao gồm 2 thông số:
- Số trên (huyết áp tâm thu): Là trị số huyết áp cao nhất khi tim co bóp
- Số dưới (huyết áp tâm trương): Là trị số huyết áp thấp nhất khi tim nghỉ ngơi.
Trong các số đo huyết áp, hãy chú ý chỉ số dưới (là huyết áp tâm trương). HA tâm thu (chỉ số trên) tới 200 mmHg có thể không sao, nhưng nếu HA tâm trương (chỉ số dưới) 110 mmHg trở lên là đã nguy hiểm tới tính mạng, cần uống thuốc giảm huyết áp ngay. Phân loại theo JNC VI:
Xếp loại
Tâm thu (mmHg)
Tâm trương (mmHg)
Tối ưu
<120
<80
Bình thường
<130
<85
Bình thường cao
130-139
85-89
Tăng huyết áp           Độ 1
140-159
90-99
Độ 2
160-179
100-109
Độ 3
≥180
≥110

(Arch Intern Med 157:2413, 1997)
     2.Tăng huyết áp – kẻ giết người số 1 của nhân loại:
Con số thống kê tại Việt Nam: 25% dân số bị cao huyết áp – có nghĩa là cứ 4 người thì có 1 người bị cao huyết áp. Cái nguy hiểm ở chỗ, căn bệnh này cứ âm thầm gậm nhấm vào người mà 52%  mình không biết. Từ huyết áp bình thường 130/80 mmHg, lên vượt quá 180/90 mmHg lúc nào không hay. Tới mức 180/90 mmHg là bạn đã vào ngưỡng cửa của căn bệnh nguy hiểm chết người ấy. 77% số người không biết bệnh cao huyết áp đến tự bao giờ!
Từ thực tế đời mình, tôi đã tóm lược những bài thuốc dự phòng, cũng là những bài thuốc điều trị cho những ai cao huyết áp. Cao huyết áp sẽ dẫn đến nhiều bệnh lý khác.

 Ngô thù du – thuốc trị huyết áp tuyệt vời:

Dược liệu: NGÔ THÙ DU, có thể mua ở bất cứ tiệm thuốc Bắc nào. Nên nhờ họ tán thành bột sẵn cho dễ sử dụng. Có thể mua lượng cao để dành dùng vì thuốc ở dang bột, khó hư.
Thực hiện: Mỗi tối, khi đi ngủ, dùng 30-40g thuốc bột, cho vào một cái chén.
Dùng 100ml rượu hoặc dấm (dùng rượu tốt hơn), cho vào nồi đun cho sôi. Khi rượu sôi, bắc xuống, từ từ đổ vào chén thuốc bột, khuấy đều cho thành dạng bột sền sệt. Bôi vào giữa lòng bàn chân, chú ý đắp nhiều vào huyệt dũng tuyền. Dùng một miếng vải (khăn cũng được), băng lại hay đi bit tất để cho thuốc khỏi rơi văng vãi khi thuốc khô.



Cứ để như vậy qua đêm, sáng ra gỡ bỏ thuốc đi.
Mỗi ngày làm một lần cho đến khi khỏi. Dùng thuốc trở lại nếu huyết áp lại tăng.

      3. Huyết áp thấp thì sao?
Trong khi nhiều người lo sợ vì huyết áp cao thì ngược lại rất ít người quan tâm tới huyết áp thấp. Các bác sĩ tim mạch khuyến cáo, bất kỳ sự tăng - giảm nào so với mức bình thường đều nguy hiểm. Chứng huyết áp thấp không chỉ tập trung vào những người quá lao lực, suy dinh dưỡng, phụ nữ… Giờ đây nguyên nhân gây chứng bệnh này còn có sự tham gia của các yếu tố như cuộc sống căng thẳng, môi trường ô nhiễm, khuynh hướng lạm dụng độc chất… Chính vì thế, huyết áp thấp đã trở thành một trong những căn bệnh thời đại mà ai cũng có thể bị mắc.
Hiện nay, tỷ lệ người bị huyết áp thấp đang ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 5 – 7% dân số trưởng thành. Nữ giới mắc bệnh huyết áp thấp, nhiều hơn nam giới khoảng 30 lần.
Gọi là huyết áp thấp khi số đo huyết áp tối đa bằng hoặc dưới 90mmHg và huyết áp tối thiểu bằng hay dưới 60mmHg (90/60 mmHg).
Có nhiều nguyên nhân gây ra huyết áp thấp, đó là: mất nước vì nôn, ói, tiêu chảy, sốt, hoặc dùng nhiều thuốc lợi tiểu, bỏng nặng, đổ mồ hôi nhiều, bị bệnh xuất huyết làm giảm khối lượng máu; phụ nữ có thai,
Mạch máu giãn nở, giảm sức ép của máu lên động mạch do đó huyết áp xuống thấp;
Bệnh nhân suy tim, rối loạn van tim, nhịp chậm…;
Các bệnh: đái tháo đường, cường tuyến giáp, Parkinson, chấn thương sọ não, ngộ độc hóa chất, suy gan, nằm lâu ngày, nhiễm khuẩn huyết, dị ứng nặng, thiếu vitamin B 12 , sử dụng các thuốc lợi tiểu, giãn mạch, thuốc viagra, chống trầm cảm, giảm đau… đều dẫn đến huyết áp thấp.
Triệu chứng của bệnh: chóng mặt, ngất xỉu, buồn ngủ, kém tập trung, buồn nôn, mờ mắt, hơi thở nhanh, da lạnh, khát nước.
Nếu huyết áp quá thấp, bệnh nhân có thể bị trụy tim mạch, sốc… Để giảm thiểu triệu chứng huyết áp thấp cần: uống nhiều nước, hạn chế uống rượu vì rượu làm mất nước và làm giãn mạch, không nên đứng quá lâu, nằm hay ngồi mà muốn đứng lên thì nên đứng lên từ từ, ăn làm nhiều bữa nhỏ, uống cà phê có tác dụng làm co mạch, tăng huyết áp nhưng nên uống vào buổi sáng để tránh mất ngủ. Bạn nên thực hiện điều trị theo chỉ định của bác sĩ.
Huyết áp thấp không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy thận…
Khi bị huyết áp thấp, bệnh nhân thường được tư vấn chế độ ăn mặn hơn bình thường (10-15 g mỗi ngày) và bổ sung thêm các đồ uống có chất kích thích như chè, cafe,…Để hạn chế tụt huyết áp tư thế, bệnh nhân được khuyên không nên thay đổi tư thế một cách đột ngột từ tư thế thấp sang tư thế cao.
Điều này trái ngược những lời khuyên đôí với người huyết áp cao: ăn nhạt, chỉ ăn ngưỡng 6 grames muối cho cả ngày. Hạn chế các chất kích thích tăng huyết áp như rượu, bia, thuốc lá, chè, cà phê….
Website http://suckhoe.24h.com.vn/huyet-ap-thap/ dẫn nguồn  Nutifood.com.vn cho rằng:
Khác với cao huyết áp, huyết áp thấp không ảnh hưởng đến tuổi thọ của bạn, nhưng nó làm giảm chất lượng sống của bạn. (?)
Điều đó chỉ đúng một nửa. Giảm chất lượng sống của bạn là đúng, còn không đúng, vì rất có thể, từ huyết áp hạ quá thấp, làm nhịp tim nhanh, gây choáng, ngất. Và một điều ít ai biết, huyết áp thấp cũng là nguyên nhân gây tai biến mạch máu não chiếm tỷ lệ 10 – 15% giống như tăng huyết áp; 30% số người nhồi máu não và 25% số người nhồi máu cơ tim...

Giới thiệu 2 bài thuốc đông y có đằng sâm trong chữa huyết áp:

+ Trị huyết áp thấp: Đảng sâm 16g, Hoàng tinh 12g, Nhục quế 10g, Cam thảo 6g, Đại táo 10 quả, sắc uống ngày 1 thang. 15 ngày là 1 liệu trình, dùng 1-2 liệu trình. Đã chữa 30 trường hợp: có kết quả: 28, không rõ kết quả: 02 (Quảng Tây Trung dược Tạp Chí 1985, 5: 36).
+ Trị huyết áp cao ở người bị bệnh cơ tim: Đảng sâm 10g, Vỏ con trai (loại cho ngọc) 16g, Sinh địa 10g, Đương quy 10g, Trắc bá tử (hạt) 16g, Táo 16g, Phục linh 16g, Mộc hương 6g, Hoàng liên 6g. Sắc với 800ml nước, chia làm 3 lần uống liên tục  2 - 2,5 tháng (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
Khuyến cáo: huyết áp cao và huyết áp thấp đều nguy hiểm đến tính mạng nếu như không được phòng tránh và chữa trị kịp thời. Vì thế cần phải chú trọng khám sức khỏe định kỳ để kịp thời phát hiện bệnh huyết áp thấp, đặc biệt cho thai phụ, học sinh, người lao động… nhằm phòng tránh hậu quả đáng tiếc. 
Biện pháp dự phòng cho bệnh nhân huyết áp thấp.
- Thay đổi tư thế đúng, khi ngủ máu tập trung vào gan, phổi, lách, nên gây ra tình trạng thiếu máu não tạm thời. Vì vậy, khi thức dậy cần nằm thêm một lúc, làm vài động tác khởi động đơn giản rồi mới ngồi dậy: để chân trên giường, sau đó mới từ từ thả chân xuống; ngồi một lúc rồi mới đứng lên.
- Khi có dấu hiệu hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, cần nằm nghỉ ngơi ở tư thế đầu thấp để tăng lượng máu lên não.
- Nên tránh trèo cao, ra nắng gắt hoặc để bị lạnh đột ngột, nhất là lúc đêm khuya.
- Luyện tập thể dục đều đặn, phù hợp với sức khoẻ và độ tuổi hàng ngày giúp duy trì lưu thông máu trong cơ thể nên giảm chứng huyết áp thấp. 
- Ăn đủ các bữa, đặc biệt bữa sáng rất quan trọng. Các chuyên gia khuyên nên ăn sáng với những thực phẩm tốt cho tim mạch và các loại nước hoa quả ép (nên thêm một ít muối) sẽ giúp máu lưu thông dễ dàng hơn.
- Ăn thành nhiều bữa nhỏ. Thay vì việc chỉ ăn 3 bữa chính như thông thường, nên chia thành nhiều bữa nhỏ. Trong chế độ ăn uống thường ngày cần bổ sung thêm các loại thực phẩm có chứa các thành phần như protein, vitamin C và tất cả các loại vitamin thuộc nhóm B rất có lợi.
- Uống đủ lượng nước là rất quan trọng, bởi lẽ nếu cơ thể bị thiếu nước sẽ dễ xảy ra tình trạng bị khử nước. Điều này càng đặc biệt quan trọng hơn trong khi đang luyện tập hoặc hoạt động, làm việc dưới điều kiện thời tiết nắng nóng. 
- Nếu huyết áp thấp do thiếu máu (hay gặp ở phụ nữ), nên tăng cường thức ăn chứa nhiều sắt như thịt nạc, gan động vật, mộc nhĩ, nấm hương khô, cần tây, rau đay, rau rền, quả lựu, táo.
- Tránh xa các loại đồ uống có cồn. Vì sử dụng đồ uống có cồn gây mất nước trong cơ thể.
     Khi huyết áp thấp hoặc sợ hãi, đói… người bệnh cần uống trà đường hay ăn kẹo ngọt rồi thả lỏng cơ thể, nằm yên tĩnh để lấy lại thăng bằng. Nhưng trong trường hợp huyết áp thấp do mất máu khi bị thương, mất nước do tiêu chảy kéo dài… cần phải gặp bác sĩ để được điều trị đúng cách.
                        Thamkhảo: Omron-yte.com.vn
       2- ĐỘT QUỴ - TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO:
Hằng năm, trên thế giới vẫn có hàng ngàn người tử vong vì bệnh đột quỵ. Chứng bệnh này được xem là nguy hiểm chỉ xếp sau ung thư và tim mạch. Bệnh đột quỵ xảy ra bất ngờ khiến người thân không kịp trở tay và để lại di chứng hoặc tỉ lệ tử vong cao. Do đó, những ai có nguy cơ gặp phải đột quỵ trong tương lai cần hiểu rõ về bệnh và cách điều trị để tránh những đáng tiếc bất ngờ xảy ra.
a/ Bệnh đột quỵ là gì?
Đột quỵ còn được gọi là tai biến mạch máu não, là bệnh lý mạch máu não nguy hiểm, và phổ biến nhất hiện nay đặc trưng bởi hiện tượng máu lên não bị gián đoạn đột ngột với hai dạng chính là nhồi máu não (tắc mạch) và xuất huyết não (vỡ mạch).
Bộ não cần được cung cấp oxy thường xuyên để có thể hoạt động được, nên khi một động mạch dẫn máu đi nuôi não bị cản trở, máu không lên được thì vùng não đó sẽ ngưng hoạt động. Đột quỵ nguy hiểm là vì nếu không được cấp cứu kịp thời thì vùng não này sẽ chết, dừng chức năng vĩnh viễn, gọi là nhồi máu não. Đây là tình trạng nghiêm trọng nhất của đột quỵ, gây liệt nửa người, hôn mê hoặc tử vong. Theo các thống kê, hơn 80% các ca đột quỵ là do nhồi máu não, để lại những di chứng nặng nề như tàn tật vĩnh viễn. Đây cũng được xem là chứng bệnh có tỉ lệ tử vong nhanh chỉ đứng sau ung thư và các bệnh tim mạch. Trong số những người bị đột quỵ thì chỉ có khoảng 50% là có thể phục hồi lại các chức năng bị liệt, 50% còn lại thường để lại di chứng nặng nề.



 .
b/ Nguyên nhân dẫn đến bệnh đột quỵ
Bệnh đột quỵ thường xảy ra ở người cao tuổi và phần lớn là nam giới. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đột quỵ, thường là do cao huyết áp, tiểu đường, các bệnh lý về tim mạch gồm xơ vữa động mạch, mỡ máu, bệnh mạch máu ngoại biên… Bên cạnh đó, lối sống không lành mạnh gồm lười vận động, béo phì, ăn nhiều thức ăn có cholesterol cao, nghiện bia rượu, căng thẳng thần kinh cũng là những nguyên nhân thường thấy của đột quỵ.
c/ Triệu chứng của đột quỵ
Các triệu chứng của đột quỵ của mỗi người là khác nhau, tùy thuộc vào vị trí và kích thước vùng não bị ảnh hưởng. Có những người chỉ bị đột quỵ nhẹ và hết ngay trong vòng 24h nhưng cũng có những người bị tổn thương não và liệt vĩnh viễn. Một số triệu chứng còn xuất hiện ngay cả trong lúc ngủ nên cũng rất khó nhận ra. Sau đây là những triệu chứng thường gặp nhất ở người bị đột quỵ:
- Đột ngột đau đầu, choáng váng, chóng mặt, mất thị lực một bên hay cả hai bên là triệu chứng thường thấy nhất ở người bị đột quỵ. Những triệu chứng như choáng, buồn nôn hoặc đang đi bộ thì bị nhức đầu được nhiều người đánh đồng với say nắng hoặc mệt do vận động quá sức nhưng thực tế đó là triệu chứng của đột quỵ. Phụ nữ có khả năng bị đau đầu dữ dội khi đột quỵ nhiều hơn nam giới, thường xảy ra với những ai có tiền sử bị đau nửa đầu khi còn trẻ.
- Rối loạn tri giác như cử động chậm chạp, tay chân yếu hoặc liệt một phần cơ thể, không thể cầm nắm được vật gì. Bạn có thể kiểm tra bằng cách cử động hai cánh tay lên xuống trong vòng 10 giây. Nếu một cánh tay bị cứng đơ hoặc rơi xuống thì đó chính là dấu hiệu của cơn đột quỵ.
- Người bị đột quỵ thường hay bị cứng miệng, không nói được hoặc nói năng lẫn lộn, vô nghĩa.
- Đột nhiên mệt mỏi, ủ rũ cũng là một triệu chứng của đột quỵ do thiếu máu cục bộ trong não. Phụ nữ thường gặp triệu chứng thay đổi trạng thái tinh thần đột ngột nhiều hơn nam giới.
- Nữ giới cũng thường gặp phải chứng tim đập nhanh hoặc loạn nhịp tim khi trong cơn đột quỵ.
- Cao huyết áp và các bệnh tim mạch là những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra đột quỵ. Do đó, để phòng tránh các cơn đột quỵ, bạn nên đi khám thường xuyên để phát hiện bệnh và chữa trị sớm, nhất là những người trên 40 tuổi.
- Tiểu đường cũng là một trong những chứng bệnh gây ra các cơn đột quỵ. Do đó, cần phải phát hiện sớm bệnh và điều trị tốt để tránh biến chứng thành đột quỵ.
- Giảm cholesterol trong máu để phòng ngừa bệnh tim mạch bằng cách ăn ít chất béo, giảm muối, ăn nhiều rau và hoa quả.
- Sinh hoạt điều độ, lành mạnh: không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia, chất kích thích, thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao để tăng cường sức khỏe nhưng không được quá sức.
- Tránh tắm khuya hoặc tắm ở nơi nhiều gió, đặc biệt với người cao huyết áp vì rất dễ lên cơn đột quỵ vào lúc này.
- Tránh căng thẳng thần kinh quá mức hay xúc động mạnh để gây thêm áp lực cho não bộ, rất dễ gây ra nhồi máu não.
Đột quỵ là chứng bệnh xảy ra bất ngờ và không loại trừ một ai từ những người chỉ mới 30, 40 tuổi cho đến người già trên 60 tuổi. Do đó, để tránh bệnh xảy ra bất ngờ, để lại di chứng suốt đời hoặc tử vong, những người có nguy cơ mắc bệnh nên có liệu trình phòng bệnh hợp lý, khoa học, thường xuyên đi thăm khám để phát hiện bệnh kịp thời. Khi đã bị đột quỵ, nếu huyết áp cao (từ 180/90 mmHg trở lên), cho bệnh nhân uống ngay thực phẩm chức năng Ngưu hoàng thanh tâm hoàn, An cung Ngưu hoàng hoàn, An cung rùa vàng và trong 3 giờ vàng, phải chuyển ngay bệnh nhân vào viện.                                             
                         http://ancungruavang.com/
e/ Những bài thuốc phòng chống đột quỵ
                    1  Sơ cứu ban đầu:
               CHÂM CỨU THẢ MÁU
       Cách Cấp cứu Của Dân Gian Đài Loan
           CHỮA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Cách cấp cứu này đối với người tai biến mạch máu não không những cứu được bệnh nhân mà còn làm cho bệnh nhân không  phải chịu hậu quả  của tai  biến.  Bất kể bệnh nhân quỵ trong  buồng tắm, phòng ngủ, hay phòng khách.  Chớ nên cuống mà di động bệnh nhân, vì di động làm cho mạch máu nhanh đứt hơn.
Hãy dìu bệnh nhân ngồi yên tại chỗ. Sau đó lấy một chiếc kim hơ lửa khử trùng rồi châm lên 10 đầu ngón tay của bệnh nhân, không có huyệt cố định, vị trí thường là cách móng tay 1 cm làm sao châm cho mỗi đầu ngón tay ra một giọt máu như hạt đỗ, nếu máu không ra được thì phải nặn cho bật máu ra.
Khi cả 10 đầu ngón tay đều ra được máu, chỉ sau mấy phút bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Nếu mồm bị méo thì hãy kéo tai bệnh nhân cho đến khi tai đỏ ửng thì châm 2 mũi kim vào 2 dái tai, sao cho mỗi bên được một giọt, miệng của bệnh nhân trở lại bình thường mới đưa bệnh nhân  đi cấp cứu tại bệnh viện để điều trị tiếp.
Nếu vội vàng đưa bệnh nhân đi ngay lên xe cấp cứu, dọc đường bị sóc, bị chấn động chỉ e rằng bệnh nhân chưa kịp đến bệnh viện thì đã chết toi rồi.
Đây là cách cấp cứu của dân gian Đài Loan.
Nhất định sẽ chuyển Nguy thành An và nên nhớ chỉ có “3 giờ vàng” cấp cứu cho bệnh nhân. Ngoài thời gian đó, hậu quả hết sức nặng nề.  
                              
                        Nguyễn Phi Hồng
Số  nhà  11-Tổ  15 - Phường Trần  Phú - Quận   
                     Hoàng  Mai - Hà Nội.
Tổng hợp báo khoa học kinh tế thế giới năm 1998.

2 Bài thuốc đắp chân phòng chống đột quỵ:
Hạnh nhân, đào nhân, chi tử: mỗi loại 10 gam. 10 hạt gạo nếp. 10 hạt tiêu sọ trắng. Cả 5 vỵ xay mịn. Khi dùng, trộn với 1 lòng trắng trứng gà tươi cho thuốc sền sệt (có màu vàng như cứt trẻ con), đắp vào gầm bàn chân, huyệt dũng tuyền đắp nhiều hơn, lấy bao Nilon sỏ vào, buộc lại hoặc đi bittất. Sau 10-12 tiếng (tốt nhất là đắp qua đêm) bột biến thành xanh đen, tháo ra và rửa chân cho sạch. Thuốc hút độc tố trong người, chữa nhiều bệnh, nhất là phòng chống đột quỵ - tai biến mạch máu não. 
Cả đơn vỵ, chỉ mình tôi đã không sử dụng bài thuốc “đắp chân đề phòng đột quỵ não”. Năm sau, đột quỵ ập tới, chữa bệnh 2 tháng trời – suýt chết, trở về. Lai rai chữa những di chứng do căn bệnh để lại cũng mất đến cả năm. Tiền bạc theo đó mà ra đi cũng như sức khỏe cho đến bao giờ trở lại? Đến khi tìm được bài thuốc “đắp chân phòng chống đột qụy”, đắp 10 lần, thần thái tôi mới được trở lại thế này. Về với cộng đồng, về với niềm vui chiến thắng bệnh tật!
Thuốc giải độc, thanh lọc tà khí, khai thông huyết mạch, trục huyết ứ cho bộ não. Thanh nhiệt, tá hỏa, giáng hỏa, chống tăng huyết áp, giảm áp lực mạch máu, chữa đau đầu, hoa mắt, chóng mặt. Nâng cao và phục hồi chân khí. Phòng ngừa đột quỵ não và tim.  (tai  biến mạch máu não, nhồi  máu cơ tim), và một số bệnh  khác. 
Không chỉ  có tác dụng  phòng  ngừa điều trị tai biến, giảm huyết áp, bài thuốc  còn  có  tác  dụng  điều  trị  một số chứng bệnh như thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình, nhức đầu, tê chân tay, phong thấp đau mình mẩy, đau khớp, đau  thắt ngực, đau lưng, đau vai gáy, thiếu máu não, mất ngủ, rối loạn thần kinh thực vật, đổ mồ hôi trộm, đánh trống ngực, tiểu són, rối loạn tiêu hóa, đều có tác dụng tốt.
 Người đã và đang bị đột quỵ sử dụng rát tốt.
Những người đau ở đầu gối, đau thắt lưng, cột sống, đắp thuốc vào ngay chỗ đau, đắp qua đêm, dùng bao Nilon buộc lại để tránh thuốc rơi, bạn sẽ thấy tác dụng tuyệt vời mà bài thuốc đem lại. Sau 7-10 ngày, vết xanh đen sẽ hết, bạn có thể đắp thêm lần 2, lần 3…
 Đắp thuốc nhiều lần không gây tác hại gì, chỉ có lợi. Đắp cả hai chân càng tốt.
Muốn thọ thêm thì đắp thuốc. Đắp thuốc thì hưởng thọ.
 Đắp thuốc vào gầm bàn chân trở thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo, có khả năng phòng chữa bệnh.
Liên hệ để lấy thuốc:
             Đan Mạnh Hùng – 0975 819 870
109 – E3 – P.Quỳnh Mai – Hai Bà Trưng - Hà Nội
       (Ngõ 250 Kim Ngưu rẽ vào 30m- tầng 1)
                               3-UNG THƯ
1.. Ung thư là gì?
Ung thư (cancer) là tên dùng chung để mô tả một nhóm các bệnh phản ảnh những sự thay đổi về sinh sản, tăng trưởng và chức năng của tế bào. Các tế bào bình thường trở nên bất thường (đột biến) và tăng sinh một cách không kiểm soát, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu. Di căn là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Những thuật ngữ khác của ung thư là khối u ác tính hoặc tân sinh ác tính (malignant neoplasm).
Ung thư không chỉ là một bệnh mà là nhiều bệnh. Có hơn 100 ung thư khác nhau.
Các loại ung thư
Các tế bào ung thư trong một khối u (bao gồm cả tế bào đã di căn) đều xuất phát từ một tế bào duy nhất phân chia mà thành. Do đó một bệnh ung thư có thể được phân loại theo loại tế bào khởi phát và theo vị trí của tế bào đó.
Khối u
Một khối u xuất phát từ sự tăng sinh bất thường của các tế bào và hình thành nên một thể khối. Các khối u có thể là lành tính hay ác tính. Khối u lành tính không thể lan tràn hay xâm lấn các mô và cơ quan khác. Thường thì các khối u lành tính có thể được cắt bỏ mà không cần phải điều trị gì thêm.
Trái lại, khối u ác tính có thể lan tràn hay xâm lấn các mô và cơ quan khác thông qua hệ bạch huyết hay mạch máu theo một tiến trình được gọi là di căn. Khả năng lan tràn (di căn) của khối u khiến cho các khối u ác tính đe dọa đến tính mạng và khó điều trị.
Đa số các bệnh ung thư đều được gọi theo tên cơ quan hay loại tế bào nơi chúng khởi phát. Ví dụ như, ung thư bắt đầu ở phổi thì được gọi là ung thư phổi. Khi ung thư lan tràn từ địa điểm ban đầu đến một phần khác của cơ thể, thì khối u mới có cùng loại tế bào bất thường và cùng tên như khối u nguyên phát. Thí dụ như, ung thư tuyến tiền liệt lan đến xương là ung thư tuyến tiền liệt di căn (hay ung thư tuyến tiền liệt di căn xương), không phải là ung thư xương, bởi vì ung thư đã khởi phát ở tuyến tiền liệt.
Ung thư có Khối u đặc
Khối u đặc là một khối bao gồm các tế bào phát triển bất thường như các ung thư của các vùng sau đây:         -Tuyến tụy
                -Phổi
                -Dạ dày
                -Thực quản
                -Đầu cổ
                -Thận
                -Trực tràng
                -Đại tràng
Các bệnh nhân có các loại khối u này thường bị sụt cân trong suốt tiến trình mắc bệnh. Sụt cân thường là triệu chứng đầu tiên khiến họ đi khám bác sĩ.
 Các bệnh ung thư vú, tuyến tiền liệt, buồng trứng và tử cung cũng đưa đến các khối u đặc. Những người mắc các loại ung thư này thường bị sụt cân trong các giai đoạn trễ của bệnh.
Bệnh ung thư có thể được nhóm lại trong các phân loại lớn hơn:
   - Carcinoma (ung thư biểu mô) – ung thư bắt nguồn trong da hoặc trong các mô lót hay phủ các cơ quan bên trong. Ví dụ như: ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư  hậu môn, ung thư thực quản, ung thư  gan, ung thư thanh quản, ung thư  thận, ung thư dạ dày, nhiều loại ung thư tinh hoàn và ung thư tuyến giáp.
   - Sarcoma (ung thư mô liên kết) – ung thư bắt nguồn trong xương, sụn, mỡ, cơ, mạch máu hay các mô liên kết khác.
 - Leukemia (bệnh bạch cầu, "bệnh máu trắng") – ung thư bắt nguồn trong mô tạo máu như tủy xương và sản xuất ra một số lượng lớn các tế bào máu bất thường tiến vào dòng máu.
  - Lymphoma và myeloma (u lympho bào, u tủy) – ung thư bắt nguồn trong các tế bào của hệ miễn dịch.
  - Ung thư hệ thần kinh trung ương – ung thư bắt nguồn trong các mô não và tủy sống.
Bệnh nhân có các loại khối u này thường bị sút giảm cân trong suốt tiến trình mắc bệnh. Sụt cân thường là triệu chứng đầu tiên khiến họ đi khám bác sĩ.
Các bệnh ung thư vú, tuyến tiền liệt, buồng trứng và tử cung cũng đưa đến các khối u đặc. Những người mắc các loại ung thư này thường bị sụt cân trong các giai đoạn trễ của bệnh.

Ung thư Máu

Các bệnh ung thư xảy ra trong máu không hình thành các khối u đặc. Thay vào đó, chúng tạo ra một sự gia tăng bất thường ở một số loại tế bào phát tán khắp các mạch máu, hạch bạch huyết hay tủy xương. Thí dụ như, trong bệnh bạch cầu (leukemia), cơ thể sản sinh một số lượng nhiều các tế bào bạch cầu một cách bất thường. Đôi khi, thuật ngữ khối u lỏng cũng được sử dụng trong bệnh bạch cầu để ám chỉ số lượng gia tăng của các tế bào tuần hoàn bất thường. Các khối u hạch bạch huyết  (lymphoma) được xem là các ung thư máu mặc dù chúng có thể hiện diện như một thể khối rõ ràng. Bệnh nhân với các khối u lỏng có thể phát triển sụt cân khi tình trạng bệnh và liệu trình điều trị tiến triển.
Nguyên nhân ung thư
Ung thư xuất phát từ một tế bào đơn lẻ, đơn vị cơ bản của sự sống. Sự chuyển dạng từ một tế bào bình thường thành một tế bào ung thư là một quá trình nhiều giai đoạn, từ một tổn thương tiền ung thư đến khối u ác tình. Những thay đổi này là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố di truyền của một người và ba loại tác nhân bên ngoài, bao gồm:
  + Các tác nhân sinh ung vật lý, như tia cực tím và bức xạ ion hóa;
  + Các tác nhân sinh ung hóa học, như a-mi-ăng (asbestos), các thành phần của khói thuốc lá, aflatoxin (một chất nhiễm bẩn thức ăn), và arsenic (một chất nhiễm bẩn nước uống); và
  + Các tác nhân sinh ung sinh học, như nhiễm trùng một số virus, vi khuẩn hay ký sinh trùng
 WHO công bố có tới 116 nguyên nhân gây Ung thư, nhưng theo tôi, gộp lại, có năm nguyên nhân chính:
         1—Do hóa chất: Những người làm công tác liên quan tới hóa chất, kho tàng có hóa chất mà trang bị BHLĐ không bảo đảm an toàn;
         2—Do môi trường độc hại xung quanh gậm nhấm;
         3—Do lối sống của từng người;
         4—Do Vírus;
         5—Do di truyền: có thể ông, bà, bố mẹ bị ung thư di truyền lại con cháu.
Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Bệnh ung thư ảnh hưởng đến mọi người bất kể quốc gia, chủng tộc hay tôn giáo. Bệnh ung thư có thể được giảm thiểu và kiểm soát qua việc áp dụng các chiến lược phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư. Nhiều bệnh ung thư có cơ hội chữa lành cao nếu được chẩn đoán ung thư sớm và điều trị đầy đủ
2. . Những triệu chứng ung thư thường gặp:

1. Ho dai dẳng hoặc khàn tiếng - có thể chỉ ra ung thư phổi.
2. Một sự thay đổi trong sự xuất hiện của một nốt ruồi - có thể có nghĩa là bạn bị ung thư da.
3. Một sự thay đổi liên tục trong thói quen đi ngoài - có thể là một dấu hiệu của ung thư ruột.
4. Một vết loét không lành - phụ thuộc vào nơi bị loét, loét miệng có thể có nghĩa là ung thư miệng.
 5. Bị khó nuốt - có thể có nghĩa là một người đang bị ung thư thực quản.
6. Giảm cân không giải thích được - có thể chỉ ra một số dạng ung thư.
7. Thay đổi liên tục trong thói quen tiểu tiện - có thể là một dấu hiệu của ung thư bàng quang và ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới.
8. Đau không rõ nguyên nhân - có thể là một dấu hiệu cảnh báo của nhiều dạng bệnh
9. Đau không giải thích được dai dẳng - tùy thuộc vào nơi, có thể biểu thị nhiều loại ung thư.
10. Chảy máu không rõ nguyên nhân - phụ thuộc vào nơi chảy máu mà có thể là ung thư ruột, ung thư cổ tử cung…


3..  Những thực phẩm quen thuộc gây ung thư khủng khiếp hàng đầu
Hút thuốc, uống rượu
Khói thuốc lá có chứa nhiều chất gây ung thư và hình thành khối u, chẳng hạn như nicotine, benzopyrene, nitrit, thuốc lá, thạch tín, và hydro, bismuth, polonium, v.v…
Có 100 triệu người trên thế giới chết vì hút thuốc lá mỗi năm, trong đó tỷ lệ chết vì ung thư phổi chiếm khoảng 90%.
Ngoài ung thư phổi, hút thuốc lá có thể gây ung thư cổ họng, ung thư miệng, ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư bàng quang, ung thư cổ tử cung.
Lạm dụng rượu lâu dài là nguyên nhân gây ra bệnh xơ gan rồi đến ung thư gan.

Thức uống có ga
Các loại thức uống có gas cũng gây ung thư. Có nhiều chất đường, hóa chất và chất màu. Soda làm acid hóa cơ thể và nuôi dưỡng tế bào ung thư. Chất màu giống caramel trong thức uống có gas và dẫn chất của nó 4-methyllimidazole cũng là chất gây ung thư.

Nước bị ô nhiễm
Nước bị ô nhiễm có chứa chất gây ung thư, các chất thúc đẩy ung thư, chẳng hạn như chất độc trong tảo xanh, axit humic...
Sử dụng thực phẩm có chứa nitrite và sẫm màu
Nếu thường xuyên tiêu thụ thịt bị ô nhiễm có chứa hàm lượng cholesterol – sắc tố đỏ cao, chẳng hạn như: thịt bò, thịt lợn, thịt cừu và nội tạng động vật khác, sẽ làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.
Thực phẩm hun khói và ngâm tẩm cũng chứa chất gây ung thư, thường xuyên ăn rất dễ dẫn đến ung thư dạ dày.
Thực phẩm quá nóng
Thường xuyên tiêu thụ thực phẩm nóng hơn 60 độ C dễ gây ra viêm niêm mạc miệng, viêm thực quản, viêm dạ dày, tình trạng viêm nhiễm thời gian dài sẽ dẫn đến ung thư.
                  Thu Nguyễn/VTC News (Tổng hợp)
4.. Điều trị ung thư
Các liệu pháp điều trị ung thư có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với nhau. Loại điều trị tùy thuộc vào vị trí ung thư, mức độ lan, tuổi và tổng trạng sức khỏe của bệnh nhân, các chọn lựa điều trị sẵn có và các mục tiêu cho việc điều trị. Các loại điều trị phổ biến nhất là phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.
   1-Phẫu thuật
Nhiều tiến bộ đã được tạo ra trong điều trị ung thư, nhưng việc loại bỏ các khối u ác tính qua phẫu thuật vẫn là liệu pháp “cứu chữa” chủ yếu đối với đa phần các khối u đặc.
   2-Xạ trị
Trong xạ trị, một chùm tia phóng xạ được nhắm vào vị trí của khối u. Vị trí của khối u bị bắn phá bằng phóng xạ trong thời gian vài phút trong một loạt các đợt điều trị, thường kéo dài liên tục trong vài tuần. Mục tiêu là phá hỏng DNA của các tế bào thuộc khối u, hủy diệt chúng khi chúng đang cố gắng sản sinh, trong khi gây tổn hại tối thiểu cho mô bình thường ở chung quanh.
   3-Hóa trị
Hóa trị liên quan đến việc sử dụng các thuốc chống ung thư, và giống như xạ trị, sẽ hủy diệt các tế bào ung thư bằng cách làm tổn hại DNA của chúng. Bệnh nhân tiếp nhận các thuốc hóa trị qua đường uống hoặc truyền qua tĩnh mạch. Tùy loại, vị trí và giai đoạn của bệnh ung thư, bệnh nhân có thể phải điều trị hàng tuần hay hàng tháng. Hóa trị là một điều trị toàn thân tác động đến toàn bộ các tế bào đang phát triển nhanh. Điều này bao gồm các tế bào của khối u và các tế bào bình thường như các tế bào ở nang tóc và ở đường tiêu hóa. Điều này gây ra các tác dụng phụ, như bị rụng tóc và tiêu chảy thường gặp trong hóa trị.
   4-Điều trị Kết hợp
Đôi khi các biện pháp phẫu thuật, xạ trị và hóa trị có thể được kết hợp để điều trị tốt hơn một ung thư cụ thể. Chẳng hạn như, xạ trị có thể được sử dụng trước để làm thu nhỏ khối u, khiến các bác sĩ dễ dàng hơn trong việc phẫu thuật cắt bỏ nó. Hay, hóa trị có thể được sử dụng cùng với xạ trị để tiêu diệt các tế bào ung thư có thể đã vượt ra ngoài khối u.
   5-Y học Hỗ trợ và Thay thế Complementary and Alternative Medicine - CAM)
CAM là sự áp dụng y học cổ truyền. Y học cổ truyền là các thực hành về sức khỏe, phương pháp, kiến thức và niềm tin kết hợp với các loại thuốc dựa vào cây cỏ, động vật và khoáng chất, các liệu pháp tinh thần, các kỹ thuật và luyện tập tay chân, được áp dụng một mình hay kết hợp với nhau để điều trị, chẩn đoán và ngăn ngừa bệnh tật hay duy trì tình trạng khỏe mạnh. Một số nghiên cứu quốc tế chứng minh rằng gần 30% bệnh nhân mắc bệnh ung thư đã sử dụng CAM. Các liệu pháp phổ biến nhất là các liệu pháp thảo dược, thiền và các kỹ thuật thư giãn
5.. Hệ lụy của nó
Những phương pháp điều trị ung thư trên đã mang lại một số lợi ích nhất định trong việc điều trị song tác dụng phụ của nó lại gây ra nhiều bất lợi cho người bệnh. Những tác dụng phụ ấy có thể khiến sức khỏe bệnh nhân giảm sút, cơ chế miễn dịch của cơ thể suy yếu, giảm khả năng chống chọi với bệnh tật. Xin nêu một ví dụ
Tác dụng phụ phổ biến của phương pháp hóa trị liệu
Mệt mỏi: Mệt mỏi là triệu chứng thường gặp nhất của bệnh nhân ung thư được hóa trị. Sau khi thực hiện hóa trị, cơ thể bệnh nhân thường suy nhược, khó thở, chán ăn, hạn chế hoạt động thể lực.
Đau đớn: Hóa trị có thể gây đau cho một số vùng trên cơ thể, bao gồm đau đầu, đau cơ, đau bụng, và đau do tổn thương thần kinh, như tê hoặc đau các ngón tay và ngón chân.
Lở loét trong miệng và cổ họng:Hóa trị có thể gây tổn hại các tế bào lót miệng và cổ họng. Các vết loét thường phát triển từ 5 đến 14 ngày sau khi thực hiện hóa trị. Chúng sẽ được chữa lành hoàn toàn khi điều trị kết thúc. Chính vì vậy, bệnh nhân được điều trị hóa trị nên có chế độ ăn uống không lành mạnh và vệ sinh răng miệng sạch sẽ để giảm nguy cơ lở loét.
Tiêu chảy hoặc táo bón: Trong một số trường hợp, hóa trị liệu gây đi tiêu lỏng, chảy nước hoặc táo bón. Khi gặp tình trạng này, người bệnh cần phải kịp thời báo với bác sĩ để điều trị sớm, tránh tình trạng mất nước. Bên cạnh đó, nên uống đủ nước, có chế độ ăn uống cân bằng và vận động hợp lý để tránh xảy ra tình trạng này.
Buồn nôn và chán ăn: Buồn nôn và ói mửa là một trong những tác dụng phụ đáng sợ nhất của hóa trị, nghiêm trọng hơn nó có thể khiến bệnh nhân phải dừng các đợt hóa trị. Cùng với buồn nôn và nôn, hóa trị gây ra mất cảm giác hương vị, làm mất cảm giác thèm ăn, dẫn đến hấp thu dinh dưỡng kém. Bệnh nhân có thể ăn ít hơn bình thường, không cảm thấy đói, hoặc cảm thấy no sau khi ăn chỉ một lượng nhỏ.
Rối loạn máu: Hoá trị gây ảnh hưởng đến việc sản xuất các tế bào máu mới trong tủy xương, ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh. Một số loại thuốc gây tổn thương thần kinh, dẫn đến những triệu chứng như ngứa ran, cảm thấy yếu hoặc tê ở bàn tay và bàn chân, mệt mỏi hoặc đau nhức, run rẩy, cứng cổ, nhức đầu, vấn đề thị giác, nghe khó khăn, chậm chạp, vv…
Tác dụng phụ lâu dài khi hóa trị
Hầu hết các tác dụng phụ của hóa trị liệu biến mất khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể kéo dài, hoặc phát triển tiếp. Ví dụ, một số loại hóa trị có liên quan đến tổn thương cơ quan thường trực về tim, phổi, gan, thận, hoặc hệ thống sinh sản. Ngoài ra, một số người bệnh sau khi hóa trị còn bị suy giảm chức năng nhận thức (như suy nghĩ, tập trung, và trí nhớ). Người sống sót qua ung thư cũng có nguy cơ cao phát triển thành bệnh ung thư thứ hai sau này. Vì vậy chăm sóc theo dõi là điều cần thiết cho tất cả những người mắc bệnh bao gồm khám sức khỏe thường xuyên và kiểm tra y tế để giám sát phục hồi sau điều trị.
6.. Thày thuốc khuyên gì?
TS Phan Minh Liêm là người Việt Nam đầu tiên được 4 lần vinh danh trên bức tường danh dự của Viện Anderson đặt tại Houston, Texas. Đây là Viện ung thư số một tại Mỹ, kết hợp giữa đào tạo, nghiên cứu và điều trị, chữa trên một triệu bệnh nhân mỗi năm. Được học tập, làm việc nơi này là mơ ước của nhiều bác sĩ, nhà khoa học nghiên cứu chống ung thư thế giới.
Từ Texas, TS Phan Minh Liêm chia sẻ cho độc giả 11 bí quyết phòng ngừa bệnh ung thư
1. Ăn nhiều chất xơ, hoa quả, rau xanh an toàn. Tuyệt đối không ăn tương, chao, đậu phụng, hắc xì dầu, nước tương (ngoại trừ các hãng nước tương uy tín có chất lượng đảm bảo và kiểm định hàm lượng độc tố aflatoxin). Không ăn các loại thực phẩm nhiễm khuẩn hoặc nấm mốc. Hạn chế ăn các loại dưa muối, dưa cải, củ cải muối.
2. Sức khoẻ tinh thần rất quan trọng đối với việc phòng ngừa và điều trị ung thư. Khi mình lạc quan, hạnh phúc, phấn chấn thì hệ miễn dịch sẽ hoạt động hiệu quả và tiêu diệt ung thư tốt. Khi mình bi quan, buồn, chán đời thì hệ miễn dịch hoạt động yếu, cơ thể sản xuất ra các stress hormone làm kích thích ung thư phát triển.
3. Các thức ăn nóng, và có dầu mỡ tuyệt đối không đựng trong các vật dụng có nguồn gốc từ nhựa, xốp, nylon. Thủy tinh, thép, sứ là các vật liệu an toàn đối với việc lưu trữ thực phẩm.
4. Không nên ăn các đồ hộp, xúc xích, paté gan, nội tạng, cũng như các thực phẩm có nhiều chất bảo quản hoặc màu công nghiệp độc hại.
5. Không sử dụng thức uống có cồn (rượu, bia, kể cả rượu thuốc cũng cần hạn chế hoặc tránh sử dụng). Tuyệt đối tránh xa nơi có khói thuốc lá, khói bụi, ô nhiễm tiếng ồn. Hạn chế sử dụng thịt đỏ vì thực phẩm này có thể kích thích tế bào ung thư tăng trưởng.
6. Tập thể dục điều độ và nhẹ nhàng, sống nơi yên tĩnh, thoáng mát, thư giãn, lạc quan ở nơi có nhiều cây xanh. Chú ý không để thừa cân, thiếu cân và phòng ngừa tiểu đường. Chế độ ăn uống đúng bữa, ăn vừa đủ no. Ngủ sớm và đủ 8 giờ mỗi ngày. Yoga, thiền tĩnh tâm, thư giãn, cầu nguyện, làm việc thiện nguyện rất tốt cho sức khỏe.
7. Các thức ăn chứa nhiều dầu mỡ, chiên, nướng, khét cần tránh. Các loại thịt bò, thịt mỡ cần tránh. Nên ăn cá, tôm, hải sản, thức ăn chay.
8. Thường xuyên thực hiện định kì các xét nghiệm và chẩn đoán tầm soát ung thư như chụp nhũ ảnh (mammogram), xét nghiệm máu, nội soi ruột, woman well exam, man well exam.
9. Một số thuốc giúp phòng ngừa ung thư:
     Curcumin (chiết xuất từ nghệ)
     Resveratrol (chiết xuất từ vỏ nho…)
    Zyflamend (kết hợp nhiều dược chất giúp ngừa ung thư)
     EGCG (chiết xuất từ trà xanh)
Ngoài ra, linh chi và đông trùng hạ thảo (cordyceps) cũng giúp tăng cường sức khoẻ, tăng cường hệ miễn dịch giúp ngừa ung thư.
10. Duy trì cân nặng hợp lý. Không để thừa cân hoặc thiếu cân. Béo phì và tiểu đường làm tăng nguy cơ ung thư.
11. Bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây ung thư như tia tử ngoại, khói thuốc, khói bụi, các hoá chất độc hại… Một số hoá chất sử dụng trong ngành công nghiệp chăm sóc sắc đẹp, in ấn, da giày,… như thuốc nhuộm tóc, sơn móng tay, mực in, chất tạo màu… có chứa nhiều hoá chất tăng nguy cơ ung thư.
Do đó, cần mang bao tay, khẩu trang, tăng cường thông thoáng khí, sử dụng các hệ thống có chức năng lọc không khí và cô lập, phân huỷ các hoá chất gây ung thư này. Sử dụng kem chống nắng, dùng mũ, dù che nắng khi tiếp xúc với tia tử ngoại.
 Tham khảo: soha.vn  - ungthu và cách điều trị.
7.. Bài thuốc đông y phòng chống ung thư -  Bạch  hoa xà thiệt thảo:
Trong xã hội hiện đại, ung thư trở thành mối lo không chỉ của một vài người. Bên cạnh những nghiên cứu của y học hiện đại, việc sử dụng thảo dược để phòng tránh và chữa bệnh ung thư cũng được nhiều người quan tâm.
Bài thuốc phòng chống bệnh ung thư đã rộ lên từ những năm 90 thế kỷ trước, lan truyền là bài thuốc do tử tù Trung Quốc  để lại. Nó chỉ có 2 vị:
           1- Bạch hoa xà thiệt thảo: 60 gam;
           2- Bán chi liên: 30 gam. Một chút cam thảo (cho dễ uống).
Sắc thuốc bằng ấm sắc thuốc hay ấm nhôm đều được. Đổ 4 bát nước, sắc còn 1 bát. Uống lúc đói là tốt nhất, trước bữa ăn 1 giờ, nếu uống sau bữa ăn, cách 2 giờ. Thang thuốc sắc lại lần thứ 2 để uống vào buổi chiều. Có thể sắc lần thứ 3 để uống thay nước. Nếu thấy phân hồng. nước tiểu đỏ như pha máu là thuốc hiệu nghiệm, bạn hãy uống thang thứ 2, thứ 3….
Người đã mắc bệnh ung thư, kiên trì, chỉ uống tháng một lần cho tới khi khỏi. Người khỏe mạnh cũng uống 1 lần để dự phòng. Bài thuốc không kiêng kỵ bất cứ thứ gì, người khỏe dùng để dự phòng; người bệnh ung thư (tất cả các loại) đều dùng tốt. Biết rằng “vái tứ phương” là phép thử, nhưng biết đâu là phương thuốc thần kỳ cho những ai có lòng tin. Phụ nữ có thai không dùng bài thuốc này.
Ta hãy xem công dụng của hai vỵ thuốc này:
1/. Bạch hoa xà thiệt thảo
Mô tả:
Bạch hoa xà thiệt thảo còn gọi là cỏ lưỡi rắn trắng, bòi ngòi bò, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo, nhị diệp lục.Cây có tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd, thuộc họ cà phê.
Loại cây này có thân màu nâu nhạt, tròn ở gốc, thân non có bốn cạnh, mang rất nhiều cành. Lá hình mác thuôn, dài khoảng 1,5 – 3,5 cm, rộng 1 – 2 mm, nhọn ở đầu, màu xám, dai, gần như không có cuống.
Hoa bạch xà thiệt thảo mọc đơn độc hoặc từng đôi ở nách lá .Hoa nhỏ có bốn lá đài hình giáo nhọn, ống đài hình cầu.
Quả bạch xà thiệt thảo dạng bế, bầu hạ, còn đài hình cầu hơi dẹt, bên trong có chứa nhiều hạt nhỏ, có góc cạnh. Cây Bạch hoa xà thiệt thảo thu hái vào mùa hạ, lấy toàn cây rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.
Theo Đông y, bạch hoa xà thiệt thảo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, không độc.Loại cỏ này có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, tiêu thũng, hoạt huyết, lợi niệu, tiêu ung tán kết.
Bạch hoa xà thiệt thảo có thể trị các chứng sưng đau do các bệnh ung thư và các chứng nhiễm trùng đường tiết liệu, viêm thanh quản, viêm phổi, viêm gan..., trị ung nhọt, u bướu, sưng nhọt, trị nọc độc của rắn độc cắn.
- Theo y học hiện đại, bạch hao xà thiệt thảo là loại thuốc quý có tác dụng ức chế sự phân chia, sinh sản của các hạch tế bào ung bướu.
Vì thế nó được sử dụng để hỗ trợ điều trị bệnh ung bướu, tăng sức đề kháng giúp cơ thể chống chọi với khối u và ngăn ngừa biến chứng của khối u.
2/. Bán chi liên:
Mô tả:
Bán chi liên còn gọi là nha loát thảo, tinh dầu thảo, hiệp diệp, hàn tín thảo, hoàng cầm râu...
Đây là loại cây cỏ đa niên thân 4 góc, bò ở gốc, mảnh ở ngọn, cao khoảng 0,15 đến 0,2m.
Lá bán chi liên mọc đối, lá trên không cuống, lá dưới có cuống mảnh, phiến lá hình trứng hẹp đến hình mũi mác, dài 1-2cm.
Bán chi liên ra hoa vào mùa xuân, thường sống ở 2 bên bờ ruộng, rãnh nước, nơi ẩm thấp gần nước. Loại cây này có ở miền Bắc nước ta.
 Công dụng:
Theo Đông y, bán chi liên có vị hơi đắng, tính mát. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu sưng, giảm đau, chống khối u tân sinh.
Thường được sử dụng trong các trường hợp: áp-xe phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa; viêm gan, xơ gan cổ trướng, khối u tân sinh.
3/. Một số kinh nghiệm dùng bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo trị các loại ung thư:
Bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên được y học cổ truyền sử dụng để chủ trị. các bệnh ung thư từ rất lâu. Ngày nay, một số viện y học dân tộc cũng lấy đây làm 2 vị thuốc chủ lực trong các bài thuốc chữa ung thư.
Tuy nhiên, ung  thư có rất nhiều dạng, nhiều vị trí, thể tạng của người bệnh cũng rất khác nhau. Vì thế khi sử dụng 2 vị thuốc này, thầy thuốc thường chẩn bệnh và bốc theo tình trạng bệnh của mỗi người.
Dưới đây là một số bài thuốc chữa các chứng ung thư sử dụng 2 vị thuốc chủ đạo là bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo được Lương y Hoàng Duy Tân viết trên báo Sức khỏe và đời sống:
- Ung nhọt, u bướu: Bạch hoa xà thiệt thảo 120g, bán biên liên tươi 60g. Sắc uống. Giã nát đắp lên nơi đau
- Ung thư phổi, ung thư trực tràng thời kỳ đầu: Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên đều 60g, ngày 1 thang. Sắc uống.
- Ung thư phổi:
+ Bạch hoa xà thiệt thảo, bạch mao căn đều 160g tươi. Sắc uống với nước đường.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 50g, bán chi liên, sa sâm, hoài sơn, ngư tinh thảo đều 30g, thiên môn, mạch môn, xuyên bối mẫu, tri mẫu, a giao, tang diệp đều 9g, phục linh 12g, sinh địa 15g, tam thất, cam thảo đều 3g.
Ngày 1 thang sắc uống (sa sâm bạch liên thang).
- Ung thư mũi họng: Bạch hoa xà thiệt thảo, tử thảo, đan sâm đều 30g, bán chi liên, dã bồ đào căn đều 60g, can thiềm bì, cấp tính tử đều 12g, thiên long, bán hạ, cam thảo đều 6g, mã tiền tử 3g. Sắc uống.
- Ung thư xoang hàm trên: Bạch hoa xà thiệt thảo, thạch kiến xuyên, hoàng cầm, bán chi liên, sinh địa, huyền sâm, mẫu lệ (sống) đều 30g, sa sâm, bồ công anh, đại hoàng đều 10g, bạc hà, cúc hoa đều 5 - 10g. Sắc uống.
- Ung thư mũi họng, hạch lymphô cổ to, mũi tắc chảy nước mũi có máu, ho, đờm nhiều, liệt mặt, chất lưỡi tối hoặc đen xạm, rêu dày nhớt, mạch huyền hoạt:
Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, bạch mao căn, hoàng cầm, liên kiều, bạch cương tàm, hạ khô thảo, triết bối mẫu, thất diệp nhất chi hoa, thổ phục linh, hoàng dược tử đều 12g.
Bán hạ chế gừng, nam tinh lùi, đại kế, tiểu kế đều 8g, bạch anh, đào nhân, ý dĩ, đông qua nhân đều 10 - 16g.
Ngày 1 thang, sắc uống.
- Ung thư thực quản, nuốt khó, lưng ngực đau bỏng rát, miệng khô, họng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, đại tiện táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không rêu, mạch huyền tế sác:
Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, sinh địa, bắc sa sâm, nam sa sâm đều 16g, huyền sâm, mạch môn, đương quy, bồ công anh, tỳ bà diệp tươi, lô căn tươi đều 20g, chi tử, bạch anh, hạ khô thảo đều 12g, hoàng liên 8 - 10g.
Sắc uống ngày 1 thang.
- Ung thư gan:
+ Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên đều 20g, tiểu kim bất hoán, kê cốt thảo đều 15g. Ngày 1 thang sắc uống.
+ Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, chó đẻ răng cưa 30g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2 - 3 lần trong ngày.
- Ung thư dạ dày, trực tràng, thực quản, cổ tử cung và các bệnh u bướu: Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, bạch anh, đông quỳ, bán biên liên, trương ương đều 30g. Ngày 1 thang sắc uống.
- Ung thư dạ dày: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60g, hạt bo bo 40g, đường đỏ 40g. Sắc uống ngày một thang.
- Ung thư tuỵ: Bạch hoa xà thiệt thảo, thiết thúc diệp, mẫu lệ nung đều 30g, hạ khô thảo, hải tảo, hải đới, đảng sâm, phục linh đều 15g, lậu lô, đương quy, xích thược, bạch truật đều 12g, đan sâm 18g, xuyên luyện tử, uất kim đều 9g. Sắc uống.
- Ung thư bàng quang: Bạch hoa xà thiệt thảo, long quý, xà môi, bạch anh, hải kim sa, thổ phục linh, đăng tâm thảo, uy linh tiên.
- Ung thư bàng quang, trong nước tiểu có máu, tiểu tiện khó, đau tức ở bụng dưới, nước tiểu vàng, rêu lưỡi nhớt khô, mạch huyền hoạt sác:
Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên đều 15g, bạch anh, thổ phục linh, long đởm thảo, chi tử sao, hoàng cầm, sài hồ, sinh địa, xa tiền thảo, trạch tả đều 12g, mộc thông, biển súc, cù mạch đều 10g, hoạt thạch 20g.
- Ung thư cổ tử cung: Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, côn bố, hải tảo, đương quy, tục đoạn đều 24g, toàn yết 6g, ngô công 3 con, bạch thược, hương phụ, phục linh đều 15g, sài hồ 9g. Sắc uống.
- Ung thư cổ tử cung do thấp nhiệt độc thịnh: Bạch hoa xà thiệt thảo, thổ phục linh đều 30g, bán chi liên, thảo hà xa đều 15g, sinh ý dĩ 12g, thương truật, biển súc, xích thược đều 9g, hoàng bá 6g.
- Ung thư cổ tử cung do can thận âm hư: Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, thảo hà xa, hạn liên thảo, hoài sơn đều 15g, sinh địa 12g, tri mẫu, trạch tả đều 9g, hoàng bá 5g.
- Ung thư tiền liệt tuyến:
Bạch hoa xà thiệt thảo, thổ phục linh, xuyên sơn giáp, sinh hoàng kỳ đều 15g, đảng sâm, tiên linh tỳ, kỷ tử, hà thủ ô chế, ngưu tất, thất diệp nhất chi hoa, bạch thược đều 12g.
Nhục thung dung, ba kích, đại hoàng chế, tri mẫu, chích cam thảo đều 6g, hoàng bá sao 10g. Sắc uống.
- Ung thư xương:
Bạch hoa xà thiệt thảo, địa miết trùng, đương quy, từ trường liễu đều 10g, phòng phong, chích cam thảo đều 6g, ngô công 3g, đảng sâm, hoàng kỳ đều 12g, thục địa, kê huyết đằng đều 15g, nhũ hương, một dược đều 9g.
Ngày 1 thang, sắc uống.
- Bột chống ung thư: Bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, hoàng kỳ, đương quy. Bột có tác dụng chống ung thư, giải độc, bổ thận nâng cao tính miễn dịch của cơ thể.
4/. Hiệu quả thực tế của bài thuốc:

- Phương thuốc này chủ trị được rất nhiều bệnh ung thư như đã kể trên. Thực tế điều trị cho thấy, các bệnh đáp ứng rất tốt với thuốc và có thể chữa khỏi là các bệnh ung thư dạ dày, ruột, gan, tử cung, vú, não...
Đặc biệt, với bệnh ung thư ruột và dạ dày chỉ cần uống từ 4-5h là có thể cảm nhận được hiệu quả.
- Sau khi uống thuốc nếu thấy đại tiểu tiện có máu, mủ bài tiết ra, đó là dấu hiệu tốt (đối với người bị bệnh nặng).
Đối với người bị bệnh nhẹ, sẽ không thấy có máu mủ bài tiết ra ngoài nhưng sẽ thấy trong người khỏe hẳn ra. Có thể uống thuốc này từ 3 tới 4 tháng mới khỏi hẳn.
5/. Những lưu ý khi sử dụng bạch hoa xà thiệt thảo và bán chi liên phòng và chữa bệnh ung thư:

- Nên uống thuốc vào lúc đói, trước bữa ăn 1h hoặc sau bữa ăn 2h để đạt hiệu quả tốt nhất.
- Mỗi thang thuốc nên sắc theo đúng hướng dẫn của thấy thuốc, sắc 2 lần để lấy thuốc uống. Để tận dụng hết dưỡng chất của thuốc, nên sắc thêm lần thứ 3 với nhiều nước để uống hàng ngày.
- Có thể phòng bệnh bằng cách uống mỗi tháng một lần.
- Khi uống cần kiên trì và cần làm các xét nghiệm để kiểm chứng hiệu quả của thuốc.
- Phụ nữ có thai không được dùng thang thuốc này.
8.. Bài thuốc phòng chống ung thư: Quý tô tử - Mạch chủ
1. Quy tô tử 1 cân Anh (1 lb) (370gram). Quy tô tử giống hạt sen khô, nhưng rất cứng, búa đập khó bể nên nhớ bảo tiệm thuốc xay luôn ra cho nát thì nấu mới ra thuốc được.
2. Mạch chủ 1 bao (bịch) (có tẩm mật ong sẵn nên có vị ngọt) 
1 bao thường có 15 trái lớn, hoặc 18 trái nhỏ. 
Tùy thích ngọt lạt mà gia giảm, chớ giảm quá nhiều, mất vị thuốc. 
Cách nấu: Nên dùng nồi slow-cooker bằng sành sứ (không nên dùng nồi kim khí)
1/. Nước đầu Cho 1 lb (370gram) quy tô tử và 10 trái mạch chủ (lớn) vào nồi. Đun 1 gallon (3,79lit ) nước sôi riêng bên ngoài, sôi xong mới đổ vào nồi (cốt cho nước trong nồi slow-cooker được sôi liền) và vặn cho nồi ở mức độ Hi (cao).
Đun trong vòng 8 tiếng đồng hồ.
Dùng khăn lược hoặc lưới nylon (tránh không dùng lưới, vợt kim khí), lược lấy nước nhất, giữ xác thuốc lại để nấu nước nhì. (Nếu muốn uống nước nhất thì càng tốt, mau có hiệu quả, không thì chờ nấu nước nhì xong, hòa chung lại uống cũng không sao).
2/. Nước nhì: Cho thêm vào nồi số Mạch chủ còn lại trong bao và cũng nấu như nước đầu với nửa gallon nước nhưng lần này ít giờ hơn.
Đun khoảng 5 tiếng đồng hồ. Dùng khăn lược như nước nhất. Hòa hai nước nhất và nhì lại làm một để uống. Chứa trong chai, lọ thủy tinh, để tủ lạnh.
Cách uống Mỗi ngày uống hai lần, sáng sớm và chiều tối, khi bụng đói, để có hiệu quả tốt. Mỗi lần uống một ly (chén).
Chú ý: Thuốc này không kỵ bất cứ thuốc Đông Y hay Tây Y nào hết, và cũng không kỵ bất cứ thức ăn nào. Tuy nhiên, để bảo đảm công hiệu và an toàn, nên uống cách 2 tiếng khi dùng Âu dược.
Khi uống vào thường không có một phản ứng nào, nhưng nếu có khạc nhổ (hoặc tiêu, tiểu) ra chút máu thì đó là chất độc dược thải ra. Xin đừng sợ mà nên mừng.
Nên uống liên tục, ít nhất là 4 tháng (nếu biết là ung thư ở vào thời kỳ nặng thì cứ tiếp tục uống thêm vài tháng liên tục, đừng nghỉ). Nấu thuốc gối đầu sao cho có thể uống liên tục không ngưng ngày nào đến khi lành bệnh. Quan trọng nhất là phải kiên trì và luôn có lòng tin để bệnh tật tiêu trừ.                             
                                 Nguồn: Google – quý tô tử.
9..  Toa thuốc trị nhiều chứng bệnh
 Ung Thư, Máu Cao, Tiểu Đường, Máu có Mỡ
 Đau Gan, Suy Thận, Nhiệt v.v.…

-1 củ ngưu bàng (Các chợ Tàu, Đại Hàn có bán).
-1 củ cà  rốt.
-1 củ  cải  trắng, có  nguyên cả củ và cọng to.
-1 nấm  đông  cô của  Nhật  Bản (Loại có sọc trắng  ngoài vỏ nấm, không  phải  loại nấm đen).
Cách thức  sử dụng: Nồi nấu thuốc loại  thuỷ tinh có nắp đậy kín, không  được loại kim  khí.  Tuỳ  nồi  lớn nhỏ mà sắc thuốc. Tất  cả  thuốc  thái  nhỏ  3 phần  thuốc, 7 phần nước lọc.
-Để lửa riu riu cháy nhỏ, nấu một giờ không cạn nước, để nguội vô bình cất tủ lạnh, uống ngày 4 lần, nửa chén cơm sáng, trưa, chiều tối khi bụng đói.
Kiêng cữ uống các loại thuốc, thịt, cá, tôm, cua, và trứng; Không uống ruợu, hút thuốc, ăn đồ dầu mỡ xào, chiên nóng.
Bệnh nhẹ thì từ bốn đến sáu tháng, nặng đến một năm thì hết tuyệt.
                            Hoà thượng Thích Giác Nhiên
                             Tổ Đình Minh Đăng Quang
                                 8752 Westminster Blvd
                                Westmínster C.A. 92683
                                 Tel: (714) 895 – 1218

Trong thang  thuốc có 2 vị, cần lưu ý:

1-Ngưu bàng:
Ngưu bảng có tác dụng lợi tiểu, tăng bài tiết mồ hôi và có tác dụng lọc máu. Hạt của A. lappa được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Hoa, dưới tên gọi ngưu bảng tử (tiếng Trung: 牛蒡子).
Ngưu bảng đã từng là cây thuốc được ưa chuộng trong nhiều thế kỷ và được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh. Tinh dầu chiết từ rễ ngưu bảng khá phổ biến tại châu Âu trong các loại thuốc điều trị trên da đầu như làm cho tóc bóng và khỏe hơn. Nó cũng được dùng để chống ngứa và gàu trên đầu. Các nghiên cứu hiện đại cho thấy tinh dầu từ rễ ngưu bảng chứa nhiều các phytosterol và các axít béo (bao gồm cả các EFA chuỗi dài rất hiếm), là các chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì da đầu khỏe mạnh và tăng cường sự phát triển tự nhiên của tóc.
                                           Nguồn: Wikipedia
 Ngưu bàng còn là một loại củ rau ngon đắt tiền của người Nhật Bản và Hàn Quốc. Nó có nhiều dương tính và tạo kiềm cho máu, mang lại lợi ích cho sức khỏe, rất tốt cho người ăn chay trường và người bệnh. Ngưu bàng là một thành phần không thể thiếu trong món Tekka nổi tiếng ở các thiền viện Nhật Bản, để tạo nên sức bền bỉ dẻo dai cho sức khỏe… món ăn tekka được gọi là món ăn tượng trưng cho người quân tử siêu nhân…tekka làm khỏe tim và hết mệt mỏi. Ngưu bàng là món ăn có độ giòn ngọt, củ ngưu bàng có thể dùng như món ăn có tính chất chữa lành những căn bệnh như sau:
1 - Cung cấp các chất dinh dưỡng, các vi chất, chất xơ và chất sắt cao.
2 - Giảm béo, giảm mỡ và cholesterol trong máu
3 - Tiêu độc, giải độc và lợi tiểu
4- Có tác dụng tích cực (giảm đường) với bệnh tiểu đường
5- Nhuận tràng, chống táo bón, vệ sinh ruột và phòng bệnh trĩ rất tốt.
6- Phòng chữa bệnh ung thư
7- Làm khỏe tim và hết mệt mỏi.

Cách sử dụng:
I. Củ tươi:
• Cộng thêm cà rốt, củ cải, nấm đông cô nấu thành bài thuốc: Canh dưỡng sinh nổi tiếng,  dùng để phòng và chữa nhiều bệnh một cách thần kỳ. Cách làm: 1/4 củ ngưu bàng cỡ 300gam, củ nhỏ 1/2 (80gam ngưu bàng tươi hay là 20gam ngưu bàng khô); củ cải trắng 1/4 củ kể cả phần lá, cọng ở trên; cà rốt 1/2 củ, nấm đông cô 1 cái nhỏ tất cả thái vừa miếng như là món ninh và đun với nước lạnh liu riu 30 - 40 phút; đây là tiêu chuẩn cho 1 người dùng trước bữa ăn nửa tiếng; có thể làm uống 2 ngày thì phải bỏ vào ngăn đá để bảo quản… nếu có thể thì bạn nên làm cho cả gia đình cùng uống …
• Luộc mềm (Có thể ăn sống và ép lấy nước uống).
• Cắt hình que diêm xào, muốn mềm thì nên bỏ chút nước và 1 miếng phổ tai đun 5 - 10 phút, vớt ra xào với cà rốt, hay chỉ om độc vị với dầu vừng và tamari…
• Cắt hạt lựu để ninh món hầm, có thể bỏ thêm nấm đông cô, đậu lăng, các loại đỗ… 
• Nấu xúp, nấu canh chua…làm dương hóa món ăn
• Dùng làm món Tekka…gồm: ngưu bàng, cà rốt, củ sen bằng nhau bào nhỏ; bỏ vào xào với dầu vừng và chút gừng nạo, bỏ misô xào nửa giờ thành Tekka ướt ăn được vài ngày; nếu đảo đều tay trên bếp cho tới 3-4 giờ thì thành món Tekka khô nổi tiếng chữa lành nhiều bệnh nhất là làm khỏe tim và hết mệt mỏi… món ăn này làm ra ai cũng thích nhất là Tekka ướt, ăn ngon nhớ đời…tạo sức mạnh cho người tu tập trong các thiền viện ăn chay nên thường có món ăn này…
• Làm nộm, (trộn gỏi)
• Luộc lấy nước uống để tăng sinh lực và sự dễ chịu cho cơ thể, kiềm hóa dòng máu.
• Bọc mì căn sống, chiên vàng rồi rim với tamari: rất nhiều người ưa thích.
• Bỏ vào nồi ninh với rau củ… lấy nước ngọt làm món phở.
• Bỏ vào món cháo làm cho nồi cháo được dương hóa.
• Kho với phổ tai, miso, tương hoặc tamari… với gừng…
II. Củ khô: Rửa sạch ngâm nước cho mềm và đun lấy nước uống… bã sau khi đun nước có thể xào như măng…
III. Bột ngưu bàng khô: cùng với bột củ sen và bột cà rốt… nước tương tamari.. tạo thành món gia vị Diệu Minh ngon nổi tiếng, dùng để nêm nếm thức ăn chay cực ngon…                                       
                                       http://nguubang.com/.

2- Nấm đông cô

Ở nhiều nước Châu Á, nấm đông cô tượng trưng cho sự trường thọ. Còn theo khoa học hiện đại, nấm này chứa tất cả các a-xít amin thiết yếu, tốt hơn so với bất kỳ nguồn protein nào khác. Cải thiện và chăm sóc hoàn hảo cho làn da
Nấm đông cô được sử dụng trong đời sống của người Châu Á hàng nghìn năm để giảm viêm, cải thiện sức sống và tăng độ đàn hồi của da. A-xít kojic chiết xuất từ nấm đông cô có mặt trong nhiều sản phẩm chăm sóc da. Thành phần này thay thế chất hydroquinone, giúp tẩy trắng da, làm mờ dần các vết sẹo thâm và đốm đồi mồi. Bảo vệ sức khỏe tim mạch Nấm đông cô đem lại lợi ích cho sức khỏe tim mạch nhờ ba tác động:   Trước hết, chất d-Eritadenine (còn gọi là lentinacin, lentsine, đôi khi viết tắt là DEA) có trong nấm giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu. Hợp chất đường liên phân tử glucans beta trong nấm cũng có tác dụng này.
Thứ hai, nấm đông cô có thể ngăn chặn quá trình sản xuất phân tử bám vào, giúp bảo vệ các mạch máu.  
Thứ ba, nấm đông cô có một số chất chống ô-xy hóa là man gan, selenium, kẽm, đồng bảo vệ mạch máu khỏi sự thiệt hại do quá trình này gây ra. Đặc biệt, chất ergothioneine (ET), có nguồn gốc từ a-xít amin histidine có lợi cho ti thể (mitochondria). Ti thể sử dụng ô-xy để tạo ra năng lượng cho các tế bào, trong đó có tế bào tim, giúp tim mạch khỏe mạnh. Phòng ngừa và điều trị bổ sung với một vài loại bệnh ung thư  Lentinan, một trong những thành phần chính của nấm đông cô có hiệu quả ức chế enzyme cytochrome P450 1A, thủ phạm gây viêm và ung thư. Thử nghiệm trên động vật cho thấy các chất chiết xuất từ nấm đông cô rất có lợi trong việc chống ung thư ở các tế bào ruột kết.   Chất lentinan còn trợ giúp hệ thống miễn dịch, có thể ngăn cản các tế bào ung thư vú phát triển. Vì vậy, ăn nấm đông cô như một cách điều trị bổ sung đối với người bị ung thư vú, ung thư bạch cầu và ung thư tuyến tiền liệt.
Giúp quý cô giảm cân. Trong 100g nấm đông cô chỉ có 34 calorie, ít hơn nhiều so với hầu hết các loại rau khác và chỉ chứa khoảng 0,5g chất béo nhưng lại cung cấp 2,5g chất xơ, giàu hàm lượng nước giúp bạn có cảm giác ăn no, rất thích hợp làm thực phẩm giảm cân. Theo một nghiên cứu được công bố trong tạp chí American Journal of Clinical Nutrition năm 2010, trong 1,800g nấm đông cô nấu chín có khoảng 515 IU vitamin D, thúc đẩy cơ thể giảm trọng lượng.
Nấm đông cô khô   Trong khi áp dụng chế độ ăn giảm cân, hệ thống miễn dịch của bạn có thể bị ảnh hưởng. Hợp chất lentinan trong nấm đông cô sẽ giúp tăng cường và trợ giúp hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm trùng, cảm lạnh và cúm.
 Lưu ý khi sử dụng và chế biến nấm đông cô
Một số người có thể dị ứng với nấm đông cô. Sau khi ăn nấm, nếu có biểu hiện phát ban, sưng mặt, cổ, cổ họng, khó thở, tăng nhịp tim, bạn nên đến bệnh viện sớm. Nếu uống 4g chiết suất nấm đông cô mỗi ngày, liên tục mười ngày, có thể gây tăng bạch cầu ái toan, tình trạng gia tăng bất thường của tế bào bạch cầu trong cơ thể.
 Chế biến đúng cách:
 Để đảm bảo các chất dinh dưỡng không bị thất thoát và tăng cường lợi ích sức khỏe từ nấm đông cô, bạn chỉ nên nấu trong 7 phút. Nấm rất xốp, do đó nếu tiếp xúc với nước quá lâu sẽ trở nên mềm, mất độ ngon và giòn. Vì thế, khi chế biến, bạn đừng ngâm mà dùng khăn ướt lau sạch nấm rồi rửa nhanh lại với nước.                                                                                    
                       VietBao.vn (Theo Webphunu)
10.. Muốn tránh ung thư – đột quỵ hãy ăn vải thiều
Vải thiều là cây trồng phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là các nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia và Philippines. Vải thiều là loại quả vô cùng quen thuộc trong mùa hè, có hương vị đậm đà, không chỉ là loại hoa quả ngon mà còn có tác dụng chữa bệnh.
1. Giúp tăng cường hệ miễn dịch: Dưỡng chất quan trọng nhất trong quả vải là vitamin C với 71,5 mg trong 100g. Đây là hợp chất giúp chống oxy hóa mạnh, cải thiện chức năng miễn dịch, bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh thông thường như ho, cảm lạnh, cúm. Ngoài ra, trẻ nhỏ được khuyến khích ăn vải, giúp phòng tránh và điều trị căn bệnh suy dinh dưỡng, thấp còi do thiếu vitamin C.
2. Chữa nấc: Vải cả quả đốt thành than, tán bột, hòa với nước nóng uống.
3. Chữa đau răng, mụn nhọt: Dùng múi vải giã nát đắp lên vùng đau, bổ sung hồ nếp cán thành cao dán lên mụn nhọt.
4. Giảm đau: Để giảm đau người ta dùng hạt quả vải to, bổ đôi, đồ qua nước sôi rồi phơi khô, có tác dụng giảm đau, hệ thống thần kinh, dạ dày, thoát vị bẹn, giảm sưng các tuyến trong cơ thể.
5. Ngăn ngừa ung thư: Theo hai nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Zhejiang Gon Shang và Đại học Tứ Xuyên (Trung Quốc) cho thấy: Trong quả vải thiều chứa chất flavonoid có tác dụng rất tốt trong việc phòng ngừa nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Ngoài flavonoid, trong quả vải còn chứa các loại vitamin C, đây là nguồn dưỡng chất mà cơ thể không thể sản xuất được, có tác dụng giúp cơ thể ngăn ngừa bệnh ung thư.
6. Tuần hoàn máu: Cùi quả vải có chứa nhiều hợp chất hữu ích giúp máu tuần hoàn. Nếu ăn vải thường xuyên sẽ giúp máu tuần hoàn tốt, tốt cho người bị suy nhược. Cùi vải khô là thuốc bổ nguyên khí, có lợi cho sức khỏe phụ nữ và nhóm người cao niên. Theo nghiên cứu, thì vải có tác dụng hạn chế tắc nghẽn mạch máu, phá hủy tế bào và giảm nguy cơ đột quỵ hơn 50%.
7. Tăng cường trao đổi chất: Với hàm lượng chất xơ và vitamin B cao, quả vải có khả năng tăng cường sự trao đổi chất giúp cơ thể làm sạch hệ thống các cơ quan, tế bào bằng cách loại bỏ các chất dinh dưỡng dư thừa như đường, chất béo và protein.
8. Ngăn ngừa bệnh tim mạch, kiểm soát huyết áp: Kali trong vải giúp kiểm soát huyết áp, nhịp tim, nhờ đó ngăn ngừa đột quỵ và các bệnh về tim mạch. Đây cũng là dưỡng chất hỗ trợ làm giảm co thắt mạch máu và động mạch, điều tiết các chức năng của cơ bắp. Ngoài ra, khoa học cũng đã chứng minh quả vải có khả năng loại bỏ các cholesterol xấu và làm tăng cholesterol tốt trong máu.
9. Hỗ trợ tiêu hóa: Sự kết hợp của pectin, chất xơ và nước trong vải rất có lợi cho nhu động ruột, duy trì hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh. Chúng cũng giúp làm sạch ruột, ngăn ngừa táo bón và ung thư ruột kết.
10. Giúp xương chắc khỏe: Vải rất giàu phốt pho, magiê và các chất khoáng như đồng, mangan, do đó hỗ trợ xương chắc khỏe và ngăn ngừa tình trạng giòn, dễ gãy. Kẽm, đồng trong vải làm tăng hiệu quả của vitamin D, đồng hóa canxi hiệu quả, duy trì sức khỏe của xương.                                                                                       
                                    (Sức khỏe và đời sống)
      Nhiều người sợ vải vì sợ nóng.Tuy nhiên, quả vải có rất nhiều tác dụng quý đối với sức khỏe mà nhiều người không biết trong đó có tác dụng chữa thận hư, yếu sinh lý.
        Dùng vải ngâm rượu để chữa bệnh:
1 kg vải tươi bóc vỏ, để nguyên cùi và hạt. Sau đó ngâm với 2 lít rượu gạo loại ngon. Nếu mua được rượu hai lần chắt là tốt nhất vì lúc này rượu không còn cồn độc nữa. Ngâm sau 1 tuần là lấy ra uống được. Mồi ngày uống 2 ly vào buổi sáng, sau 1 tháng bệnh sẽ thuyên giảm biểu hiện qua số lần đi tiểu đêm giảm xuống rõ rệt, có thể từ 4,5 lần giảm xuống 1,2 lần trong đêm.
Cũng có thể ngâm vải với rượu và nhân sâm. Loại rượu này vừa lành vừa dễ uống, giúp quý ông và cả quý bà hồi xuân.
Loại rượu này tốt cho chị em phụ nữ tuổi tiền mãn kinh và quý ông vào tuổi tiền mãn dục. Nói chung khoảng ngoài 40 tuổi dùng rất tốt.
              Một vài chú ý khi ăn vải:
Ăn vải tươi khi đói sẽ khiến trong cơ thể đột ngột bị ngấm quá nhiều đường có thể gây viêm nhiệt hoặc say với các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, chân tay bủn rủn.
Cách tốt nhất nên ăn vải sau bữa cơm, lúc này trong cơ thể đã tích trữ đủ lượng nước muối qua thức ăn nên ăn cũng không lo bị nóng.
Vải thiều không phải là hoa quả được khuyến khích cho người bệnh tiểu đường, nhất là phụ nữ mang thai mắc tiểu đường.
Vải tươi chứa hàm lượng đường cao, vậy khi ăn nhiều sẽ gây cảm giác no, đầy và khi đó không thể ăn được các loại tinh bột, tình trạng hạ đường huyết sẽ diễn ra.
Trong điều kiện đó, gan sẽ không thể chuyển hóa hết được frucotose, lúc đó, lượng đường trong máu sẽ tăng cao bất thường.
Không ăn khi cơ thể nhiệt, mắc bệnh có đờm
Vải thiều là loại hoa quả nổi tiếng có tính nóng. Khi cơ thể bị nóng trong, ăn vải thiều sẽ khiến mụn hay những vết ban đỏ xuất hiện.
Ngoài ra, những người có các bệnh dễ nhiễm cảm, người đang mắc bệnh có đờm, người đang bị thủy đậu, mụn nhọt, rôm sảy, chắp lẹo mắt … cũng nên hạn chế mức tối đa việc ăn vải thiều.
 Không ăn quá 10 quả/lần đối với người lớn, 4 quả/lần với trẻ em, phụ nữ mang thai, không nên ăn quá 10 quả/lần.
Ăn nhiều sẽ khiến gan sinh hỏa, đau rát lưỡi họng, thậm chí nghiêm trọng hơn còn có thể dẫn đến buồn nôn, hoa mắt chóng mặt hay chân tay mỏi rã rời…
Đới với trẻ em, chỉ nên ăn 3-4 quả 1 lần. Khi trẻ đói, không nên cho trẻ em ăn nhiều vải. Nếu ăn cần có sự theo dõi chặt chẽ của người lớn vì đã có nhiều trường hợp hóc vải, thậm chí mất mạng vì vải.
Không bỏ lớp màng trắng và phần trắng trên đầu quả vải
Khi bóc vải ra, ta thấy nó có một lớp màng trắng. Nếu không muốn bị nóng, hãy ăn luôn cả lớp màng trắng này, mặc dù nó có vị hơi chát.
Và bạn cũng nhớ ăn luôn cả phần trắng trên đầu hạt vải, những phần đó đều có tác dụng phòng tránh sinh hỏa.
                                    Theo: Gia đình và xã hội.
11.. Khoai môn – món ăn kỳ diệu trị ung thư
Điều kỳ lạ này không chỉ gây tò mò cho người dân Trung Quốc, mà còn nổi tiếng sang tận Mỹ. Ngôi làng yên bình này chính là Lệ Phố, tỉnh Quảng Tây (TQ).
Người dân trong làng có tuổi thọ khá cao, tổng cộng dân số sinh sống trong làng có 3653 người, và tất cả số họ đều không ai mắc bệnh ung thư.
Hiện tượng đặc biệt này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của một nhóm những nhà khoa học mảng y tế hàng đầu của Mỹ, họ đã cùng với một nhóm nghiên cứu sinh đến đây để tìm kiếm những bí mật.
Nhóm học giả này đã tiến hành nghiên cứu về địa lý môi trường, khí hậu, thói quen ăn uống, và cuối cùng đi đến một giả thiết rằng: Ngôi làng này không có ung thư, đơn giản chỉ vì họ thường ăn khoai môn, chẳng có điều gì khác hơn để có thể làm căn cứ.
Khoai môn cả thế giới đều có, tại sao mỗi người làng Lệ Phố mới phòng được ung thư?
Quả thực, các chuyên gia nghiên cứu này nói rằng, điều đặc biệt là ngôi làng này cách xa thành phố, người dân khá nghèo khổ.
Trong làng hầu như chỉ có duy nhất một nghề là trồng cây khoai môn. Đây cũng là món đặc sản được bán rộng rãi cho khách du lịch ở khu vực Quế Lâm.
Vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người dân cả làng từ xưa vẫn giữ thói quen ăn khoai môn "của nhà trồng được" vào các bữa sáng.
Trong những bữa ăn phụ khi đi làm ngoài đồng ruộng, họ cũng mang ít khoai môn đi để ăn thêm, chẳng có món ăn nào khác cả.
Liệu khoai môn có phải là thực phẩm phòng ung thư?
Theo tài liệu nghiên cứu tác dụng của thực phẩm trong việc phòng chống ung thư, khoai môn là 1 trong 21 cái tên được nhắc đến.
Chưa có một công trình nghiên cứu riêng lẻ nào khác khẳng định chắc chắn rằng khoai môn có thể phòng được ung thư, những những tác dụng của khoai môn đối với sức khỏe sẽ giúp bạn hiểu về thực phẩm này có liên quan thế nào.
1 .Khoai môn có tính kiềm
Theo nghiên cứu, có đến 85% người mắc bệnh ung thư có thể chất mang tính axit. Vì thế, duy trì thể chất có tính kiềm yếu sẽ giúp ngăn ngừa ung thư.
Khoai môn chính là thực phẩm có tính kiềm, có thể trung hòa tính axit trong cơ thể, cân bằng axit – kiềm, nhờ đó tế bào ung thư không có môi trường để phát triển.
Ngoài ra, đại bộ phận những thực phẩm có nguồn gốc thực vật, nhiệt lượng thấp như rau, trái cây… hầu như đều là thực phẩm có tính kiềm.
 2 .Khoai môn chứa một lượng lớn chất dinh dưỡng
Thành phần dinh dưỡng của khoai môn phong phú, đa dạng như protein, canxi, phốt pho, sắt, kali, magiê, natri, carotene, niacin, vitamin C, vitamin B, saponin…
Những chất này giúp tăng cường chức năng miễn dịch, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư hiệu quả, ức chế sự hình thành các khối u rất tốt.
3 .Khoai môn chứa một loại chất nhầy đặc biệt
Khi bạn gọt khoai môn/khoai sọ tươi có thể cảm thấy chất nhầy này, chúng chứa một chút độc tốnên sẽ gây ngứa cơ thể.
Sau khi cơ thể hấp thụ chất nhầy này sẽ sản xuất globulin miễn dịch, cải thiện sức đề kháng. Điều này đã được khẳng định trong tài liệu về Y dược cổ truyền Trung Quốc.
Chất nhầy saponin và các nguyên tố vi lượng khác có thể giúp cơ thể bổ sung vi chất dinh dưỡng, làm tăng sự thèm ăn và giúp tiêu hóa thuận lợi.
Vì vậy, y học Trung Quốc khẳng định khoai môn có thể bổ sung và điều hòa trung khí trong cơ thể.
Ngày xưa, khoai môn luôn luôn được xem là một món quà của hoàng gia, đặc biệt là các triều đại nhà Thanh (TQ), Hoàng đế Càn Long rất thích ăn.
Trong tài liệu về những thực phẩm ngăn ngừa ung thư của Trung Quốc viết, khoai môn (ở phạm vi bài này nhắc đến bao gồm cả khoai sọ) có vị ngọt tự nhiên, tính bình, có thể tản kết, giải độc và làm mềm thận. 
4 .Phòng tránh và ngăn ngừa ung thư
Trong cuốn sách "Sổ tay sử dụng các món ăn phòng chống ung thư" (实用抗癌药物手册) ghi chép rằng:
"Khoai môn chữa bệnh ung thư tuyến giáp, ung thư gan, ung thư hạch bạch huyết, mỗi ngày dùng 15-30 gram nấu chín rồi ăn".
Trường hợp bệnh nhân mắc các loại ung thư khác nhau, với các hạch bạch huyết hoặc di căn nên ăn khoai môn với một lượng thích hợp để kiểm soát và khống chế sự di căn của các hạch bạch huyết.
Trong nghiên cứu của Y học Trung Quốc cho rằng, khoai môn có thể hỗ trợ điều trị bệnh ruột kết, dạ dày, ruột rộng, táo bón, giải độc, bổ thận, làm tiêu sưng và đau, làm giảm tắc nghẽn dạ dày và lá lách, thông hoạt khí, đờm, và các triệu chứng khác.
Do giá trị dinh dưỡng phong phú có thể tăng cường chức năng miễn dịch, phòng ngừa và điều trị các bệnh ung thư, được sử dụng như là một thực phẩm chủ yếu.
Khoai môn có vai trò lớn trong điều trị hỗ trợ trong phẫu thuật ung thư hoặc xạ trị sau phẫu thuật, hóa trị liệu và phục hồi chức năng.
5 .Khoai môn giúp tiêu sưng, giải độc
Chất protein và chất nhầy trong khoai môn sau khi được hấp thụ vào cơ thể sẽ sản xuất globulin miễn dịch, hoặc các kháng thể được gọi là globulin miễn dịch, có thể cải thiện sức đề kháng của cơ thể.
Vì vậy, y học Trung Quốc xem khoai môn là món ăn giải độc của cơ thể, hạn chế nảy sinh mụn nhọt, ức chế và tiêu hủy ung nhọt.
Khoai môn có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như luộc, hấp, làm bánh, nấu canh, nấu cháo…
Dù chưa biết câu chuyện về ngôi làng Lệ Phố thoát khỏi ung thư nhờ khoai môn có chính xác hay không. Nhưng thương hiệu khoai môn Lệ Phố đã nổi tiếng khắp thế giới, đặc biệt là ở Châu Á.
        *Tổng hợp từ Health39/NTDTV/Mỹ thực
                                        http://soha.vn/

12.. Rượu tỏi: Bài thuốc tuyệt vời được WHO khuyên dùng trọn đời
Tỏi là gia vị đầu tay, nhân dân ta ai cũng biết; là vị thuốc y học dân tộc, lương y nào cũng biết. Tuy nhiên, rượu tỏi có xuất xứ Ai Cập thì chưa nhiều người biết.
Y học cổ truyền đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh thu được hiệu quả tốt. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy đơn thuốc làm từ tỏi. Còn ở Trung Quốc, ngay từ năm 2600 trước Công nguyên đã có những bài thuốc bào chế từ tỏi. Ở nước Nga từ thế kỷ 19, người ta đã coi cây tỏi như một loài thảo dược...
Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Trong củ tỏi có chứa 0,10 - 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S). Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) - chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin. Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng... đặc biệt là selen. Y học phương Đông ghi về tỏi như sau: vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở cổ, tiêu đờm...
Có thể dùng tỏi với những cách khác nhau, nhưng độc đáo là Ai Cập hầu như nhà nào cũng dùng “rượu tỏi”.
Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao. Thấy đây là một hiện tượng lạ, WHO đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu đã chia nhau về nông thôn và thâm nhập các vùng có khí hậu khắc nghiệt để nghiên cứu thu thập tài liệu có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Họ có nhận xét chung là nhà nào cũng có một lọ rượu ngâm tỏi để uống, từ bao nhiêu thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này.
Qua nghiên cứu phân tích cho thấy, rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh:
Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp...).
Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản...).
Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày - tá tràng).
Cho tới năm 1983, các nhà y học Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là: các bệnh trĩ, bệnh đái tháo đường và nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.
Cách bào chế rượu tỏi và uống:
Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40g thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 - 45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được.
Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng, uống liên tục suốt đời. Với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.
Ở nước ta cũng đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi này, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi/lần), nhưng không thấy phản ứng phụ. Các thông tin phản hồi đều cho biết rượu tỏi đã điều trị có hiệu quả nhiều bệnh mạn tính khác nhau, có nhiều người khỏi bệnh. Có thể nói, rượu tỏi là vị thuốc tuyệt vời, trời ban cho người nghèo...
Sau này, tỏi lại được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của nó. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, hoạt tính kháng nấm cũng đã được chứng minh - nghiên cứu dược lý thực nghiệm thấy tỏi có phổ kháng khuẩn và kháng nấm rộng. Tác dụng kháng virut cũng đã được nói đến.
Bài thuốc 5.000 năm tuổi này là thức uống tự nhiên, vô cùng công hiệu trong việc loại bỏ lượng mỡ dự trữ trong cơ thể, giảm cholesterol "xấu" (LDL) trong khi tăng cholesterol "tốt" (HDL), ngăn ngừa sự hình thành huyết khối, điều hòa huyết áp, thúc đẩy lưu thông máu.
Từ đó, nó có tác dụng với các bệnh như thiếu máu cục bộ, viêm xoang, bệnh tim, cao huyết áp, viêm khớp, thấp khớp, xơ vữa động mạch, viêm phổi, viêm dạ dày và bệnh trĩ.
Hơn nữa, nó cũng là chất kích thích sự trao đổi chất trong cơ thể, cải thiện thị lực và cũng có tác dụng giúp giảm cân hiệu quả.
Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên, đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng sử dụng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Nếu dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày - ruột, ức chế tuyến giáp...
Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh. Coi trọng cách dùng an toàn là có thể dùng hàng ngày một cách lâu dài mà không lo nó gây ra những tác dụng xấu ngoài ý muốn.
Có một số sách còn Lưu ý thêm những điều sau đây:
-  Bạn chỉ nên áp dụng bài thuốc này 5 năm/lần.
-  Trong quá trình sử dụng, bạn phải chú ý theo dõi phản ứng của cơ thể. Nếu xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, mụn nổi... trong những ngày đầu thì bình thường, khi đó tỏi đang giúp cơ thể thải độc.
Nhưng nếu tình trạng này kéo dài, bạn nên dừng lại và tham khảo ý kiến của bác sĩ.
- Những đối tượng bị bệnh dạ dày nên cân nhắc trước khi sử dụng.
Cẩn thận vẫn hơn. Các bạn hãy chú ý và ngâm ngay một bình rượu tỏi tại nhà để làm thức uống phòng và chữa bách bệnh cho cả nhà, đặc biệt là vào dịp giao mùa. Sức khỏe là vô giá!                                                                                          
                                            Nguồn Intrenet.
13..  Tỏi đen – Cách làm, Công dụng
Đổ bia vào tỏi có ngay “thần dược” tỏi đen cho cả nhà – Không biết thì phí cả đời!
Trong những năm gần đây, tỏi đen được xem là “siêu thực phẩm” bởi công dụng có thể phòng ngừa và chữa được nhiều loại bệnh đặc biệt là ung thư. Song giá thành của tỏi đen lại không hề rẻ chút nào. Dù vậy bạn hoàn toàn có thể tự tay làm được tỏi đen tại nhà với phương pháp cực đơn giản, giúp bạn tiết kiệm chi phí mà vẫn tạo ra những mẻ tỏi đen an toàn, hiệu quả dưới đây.
Tỏi thường đã rất tốt cho sức khỏe nhưng tỏi đen còn tốt hơn nữa. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng hàm lượng hoạt chất chống oxy hoá của tỏi đen cao hơn rất nhiều so với tỏi tươi, do đó chúng có tác dụng ngăn chặn các bệnh có liên quan đến quá trình rối loạn trao đổi chất trong cơ thể, làm giảm hàm lượng cholesterol xấu trong máu, hạn chế quá trình lão hoá, giảm xơ cứng động mạch, bảo vệ tim mạch, hỗ trợ tiêu hóa, giúp ăn ngon, tăng cường sức đề kháng…
Tỏi đen là một sản phẩm của quá trình lên men và làm chín sinh học tỏi tươi thông thường bằng nhiệt độ cao. Màu đen của tỏi là màu tự nhiên do hợp chất Melanoidin (có thể ăn được) được hình thành trong quá trình lên men tỏi tươi. Khi tỏi tươi trải qua quá trình xử lý nhiệt trở thành tỏi đen sẽ mất đi hoàn toàn mùi hăng khó chịu, có vị ngọt đặc trưng và dai mềm khi ăn.
 Chính vì những công dụng tuyệt vời trên đây nên tỏi đen được bán trên thị trường với giá thành rất cao (dao động từ 1.000.000 – 2.500.000 đồng/kg). Tuy nhiên, để có thể tiết kiệm chi phí và bảo đảm giá trị dinh dưỡng có trong tỏi đen, bạn hoàn toàn có thể tự làm tỏi đen tại nhà vô cùng đơn giản.
1. Tỏi đen đạt chuẩn phải đảm bảo được những công dụng gì ?
Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh tác dụng sinh học có thể chữa được bệnh của tỏi đen: Dịch chiết xuất từ tỏi đen có hiệu lực mạnh trong việc kháng lại các tế bào ung thư. Loại dịch này được hình thành trong quá trình lên men, tạo ra các dẫn chất của tetrahydro-carboline và các hợp chất sulfur hữu cơ, giúp chống lại sự sản sinh các gốc tự do (nguyên nhân chính gây ung thư) và ức chế quá trình peroxy hóa lipid cao hơn trong tỏi thường rất nhiều. Đặc biệt, hàm lượng hoạt chất SAC (có công dụng làm giảm sự phát sinh của khối u ruột kết) có trong tỏi đen cũng cao gấp 8 lần so với tỏi thông thường. Hoạt chất chống oxy hóa tăng đến gấp 25 lần so với tỏi tươi, bao gồm cả vai trò bảo vệ DNA khỏi sự phá hủy của các dạng oxi hoạt động vốn là tác nhân chủ yếu gây ung thư.
Tỏi đen tác động đến các yếu tố gây ung thư bằng cách ức chế sự nhân lên của tế bào khối u. Cơ chế tác động không trực tiếp gây độc cho tế bào mà gián tiếp thông qua con đường kích thích đáp ứng miễn dịch, loại bỏ khả năng di căn của các tế bào khối u.
Bên cạnh việc phòng ngừa ung thư, tỏi đen còn có thể hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường và các bệnh về đường huyết. Các acid amin, glycine giúp hạ đường huyết, kích thích bài tiết insulin, điều hòa đường huyết.
Tỏi đen không chỉ đơn thuần làm thức ăn mà còn được các nhà khoa học bào chế ra nhiều loại thực phẩm, loại thuốc chống oxy hóa, tăng cường miễn dịch, chứa các nguyên tố vi lượng và thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Đây được xem là “chìa khóa” cho sức khỏe, sử dụng rộng rãi trong ngành công nghệ dược phẩm.
2. Cách làm tỏi đen phòng chống ung thư
Về nguyên tắc, tỏi đen được lên men trong thời gian dài từ tỏi thường, có màu đen, vị ngọt. Đặc biệt, trong quy trình chế biến tỏi đen nhất định phải có công đoạn lên men bằng bia. Quá trình từ khi bắt đầu đến lúc thu hoạch tỏi đen thường diễn ra từ 2 – 3 tuần (tùy vào loại tỏi, nhiệt độ, kích thước…)
Các bước thực hiện làm tỏi đen:
– Bước 1: Lựa chọn củ tỏi to, kích thước đều nhau. Bóc bỏ lớp vỏ mỏng nhất ngoài cùng để loại bỏ bụi bẩn.
– Bước 2: Đổ bia ra một cái chậu rồi cho tỏi vào ngâm với bia trong vòng 30 phút để tỏi ngấm đều men vi sinh. Tỷ lệ ngâm giữa bia và tỏi là 1 lon bia : 1kg tỏi.
– Bước 3: Chuẩn bị một tờ giấy bạc lớn. Sau khi ngâm, vớt tỏi ra khỏi thau bia rồi xếp tỏi vào giấy bạc ngay khi tỏi còn đang ướt.
– Bước 4: Gói giấy bạc bao kín hết phần tỏi rồi cho vào nồi cơm điện, bật nút ‘warm’ để giữ ấm trong 2 tuần. Bạn nên dùng một lớp màng bọc thực phẩm để bọc kín xung quanh vung nồi cơm điện sao cho nồi càng kín càng tốt.
Chú ý: Trong quá trình ủ tỏi, tỏi sẽ dần dần chuyển từ màu trắng ban đầu sang màu nâu, rồi màu đen. Bạn có thể mở nồi ra kiểm tra tỏi hàng ngày nhưng không nên mở vung quá lâu, thời gian mở vung không quá 5 phút.
Tỏi đạt yêu cầu là tỏi khi nếm không còn mùi hăng nồng nguyên bản của tỏi, có vị hơi chua, hơi ngọt. Tỏi đen thành phẩm cho vào hộp nhựa chữ thực phẩm, ngâm lượng mật ong rừng sền sệt,  phải được bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh mới có thể sử dụng lâu dài. Mỗi ngày dùng một tép, bạn sẽ thấy điều kỳ diệu đến với bạn.
http://myeva.vn/bia-vao-toi-co-ngay-duoc-toi-den-cho-ca-nha-khong-biet-thi-phi-ca-doi/
14..  Bồ công anh và giảo cổ lam
   1 Bồ công anh:
TTXVN năm 2010 đã dẫn lại từ trang Natural News thông tin về công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Windsor của Canada do nhà sinh hóa Siyaram Pandey đứng đầu.
Nghiên cứu cho rằng: chất chiết xuất từ rễ cây bồ công anh Trung Quốc có thể khiến các tế bào ung thư bạch huyết "tự chết".
Trước khi tiến hành nghiên cứu này, đã có 2 bệnh nhân bị ung thư máu cải thiện được sức khỏe của mình sau 1 thời gian uống trà bồ công anh.
Dựa trên cơ sở thực tế đó, tiến sĩ S.Pandey đã tiến hành thử nghiệm dùng chiết xuất rễ cây bồ công anh cho những tế bào ung thư bạch cầu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những tế bào ung thư bạch cầu đã tự chết trong vòng 24h.
Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ ra rằng, dùng rễ bồ công anh tốt hơn nhiều so với hóa trị, vì nó chỉ phá hủy hoàn toàn tế bào ung thư mà không làm ảnh hưởng gì đến những tế bào bình thường.
Nghiên cứu này chính là phát hiện về tính năng mới của cây bồ công anh, đem lại nhiều hy vọng cho các bệnh nhân ung thư về một loại thuốc có nguồn gốc thảo dược hoàn toàn không độc hại nhưng vô cùng hiệu quả để chống lại căn bệnh nan y này.
Bồ công anh Trung Quốc, có tên khoa học là Taraxacum officinale Wigg.
Về thành phần hóa học: Trong rễ có một chất đắng Bồ công anh Taraxacin, chất Taraxenola, đường khử, chất nhựa, chất đắng, saponozit, men tyrosinaza. Trong hoa có Xanthophyl, trong lá có Luteolin - 7 - glucozit và apigenin - 7 - glucozit hay cosmoziozit và rất nhiều Vitamin B, C.
Về công dụng: Cây được trồng phổ biến ở Châu Âu để làm thuốc bổ đắng, tẩy máu, lọc máu. Lá được dùng làm rau ăn như xà lách. Khi dùng làm thuốc, bồ công anh được lấy toàn cây có rễ, lá cũng được dùng làm thuốc và có công dụng như rễ.
Theo sách Trung Quốc cổ coi bồ công anh có vị ngọt, đắng, tính hàn, vào 2 kinh tỳ và vị có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, lương huyết tán kết, thông sữa, lợi tiểu dùng trong các bệnh sưng vú, mụn nhọt, tiểu tiện khó khăn, ít sữa...
Các tài liệu khoa học khác cho rằng, ngoài tính chất lợi tiểu, rễ bồ công anh còn kích thích sự tiết mật, làm sạch gan, giúp trong việc điều trị các bệnh dị ứng và làm giảm nồng độ cholesterol.
Rễ bồ công anh rất giàu vitamins thiết yếu và khoáng chất, bao gồm vitamin B6 , thiamin, riboflavin, vitamin C, sắt, canxi, kali, acid folic và magiê.
Liều dùng: Ngày dùng từ 4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc.
Bồ công anh được dùng phổ biến ở các nước châu Âu. Ở Việt Nam, loại cây này không được sử dụng nhưng cũng có mọc hoang tại những vùng núi cao như Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt.
Loại cây này có thể trồng ở đồng bằng cũng như miền núi rất tốt, có ra hoa kết quả.
Tuy nhiên, cần lưu ý một điều rằng nếu bạn muốn sử dụng loại thảo dược này, cần chắc chắn rằng nguồn cung cấp thảo dược phải từ những khu vực sạch, cách xa nơi có nhiều xe cộ và bụi bặm bởi cây có thể hấp thụ độc chất từ môi trường này.
2 Giảo cổ lam:
Giảo cổ lam chứa hơn 100 loại saponin cấu trúc triterpen kiểu damaran, trong đó có nhiều loại giống với nhân sâm và tam thất. Cũng chính vì đặc tính và công dụng này mà nó có tên là ngũ diệp sâm. 
Giảo cổ lam chứa nhiều Flavonoid, là hoạt chất có tác dụng sinh học cao, chống lão hóa mạnh. Ngoài ra, nó chứa nhiều acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se. 
Các hoạt chất chiết xuất từ giảo cổ lam đã được thử nghiệm trên cả động vật lẫn trên cơ thể người và các nhà khoa học đã có được các kết quả rất đáng kinh ngạc. Giảo cổ lam có tác dụng ức chế tăng cholesteron 71% theo phương pháp ngoại sinh và 82,08% theo phương pháp nội sinh, do đó, nó có tác dụng giảm mỡ máu rất mạnh.
Các nhà khoa học đã thử nghiệm trên chuột bơi và nhận thấy tác dụng tăng lực tới 214,2%. Với tác dụng tăng lực như trên, các vận động viên của Trung Quốc và Nhật Bản thường sử dụng giảo cổ lam trước các cuộc thi đấu và họ gọi loại cây này là Doping thiên nhiên (?!).
Giảo cổ lam có tác dụng bảo vệ tế bào gan rất mạnh trước sự tấn công của các chất gây độc, làm tăng tiết mật và làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào khi chiếu xạ hoặc gây độc tế bào bằng hóa chất… 
Còn rất nhiều tác dụng khác nữa mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu, chiết xuất, ứng dụng.
Chỉ cần nêu những công dụng trên đây cũng có thể thấy giá trị của giảo cổ lam là rất lớn. Tuy nhiên, người dân trong nước lại quan tâm đặc biệt đến loại cây này bởi theo công bố của các nhà khoa học, nó có khả năng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, căn bệnh khiến số người chết trên thế giới nhiều chỉ sau tim mạch. 
Theo dự đoán, bệnh tim mạch sẽ phải “nhường ngôi” cho bệnh ung thư trong thời gian không xa, vì những phương tiện điều trị bệnh tim mạch mỗi ngày thêm hiện đại, song khả năng điều trị bệnh ung thư thì vẫn như… rùa bò. 
Theo các nhà khoa học, giảo cổ lam có khả năng ức chế khối u từ 20-80% và khả năng phòng ngừa u hóa cực kỳ tốt (?!).
3 Sự thật giảo cổ lam
Lợi dụng những công bố khoa học này, nhiều doanh nghiệp, nhiều ông lang đã thổi vào cây thuốc công dụng “thần kỳ” là trị bệnh ung thư. Giữa hai cụm từ “hỗ trợ điều trị” và “điều trị” là một khoảng cách rất xa, nhưng trong những lời quảng cáo họ rất hay bỏ quên hai chữ “hỗ trợ”.
Bệnh nhân ung thư là những đối tượng quan tâm đến loại cây thuốc này nhiều nhất. Rồi những người lo lắng mình có thể mắc ung thư cũng tìm kiếm các sản phẩm từ giảo cổ lam để uống thay nước hàng ngày những mong ngăn ngừa được căn bệnh tử thần.
Hiện tại, có một số doanh nghiệp trong nước chế biến các sản phẩm từ cây giảo cổ lam, phổ biến là các sản phẩm dưới dạng trà, viên nén, dung dịch và có tới cả trăm thầy thuốc tư nhân chế biến loại trà này để bán.
                                                 (VTC.news)
4 Từ Giảo cổ lam, biết thế nào là bí mật gia truyền:
Loài thảo dược gọi là giảo cổ lam có tới 27 loài khác nhau và chỉ có duy nhất 2 loài có giá trị, có nhiều hoạt chất tốt, có tác dụng chữa bệnh mà thôi. Những loài khác chỉ là cùng họ và giá trị dược liệu rất kém.
Ông Trần Ngọc Lâm Là người có nhiều năm sống ở Trung Quốc, nghiên cứu về thảo dược, nên ông hiểu rất rõ người Trung Quốc. Họ luôn thu mua những thứ tốt với giá cao, khiến núi rừng Việt Nam cạn kiệt, rồi lại bán sang Việt Nam thứ đó với giá rất rẻ. Điều này quả thực lạ, nhưng ông Lâm thừa hiểu bụng dạ của họ. Họ đã thu mua hết thứ tốt, sau đó bán sang Việt Nam đồ đểu, đồ giả, đồ nhái. Giảo cổ lam là một ví dụ điển hình.
Cũng giống như cây ba kích. Thứ thảo dược ngâm rượu “ông uống bà khen” ấy, nếu được trồng ở Việt Nam, thì mua tận gốc cũng phải 500 ngàn/kg, còn mọc hoang dã thì phải tiền triệu. Người Trung Quốc sẵn sàng mua ba kích với giá cao, nhưng lại bán sang Việt Nam cả ngàn tấn ba kích với giá chỉ vài chục ngàn đồng/kg. Kỳ thực, họ mua đồ xịn, còn bán sang Việt Nam toàn đồ nhái, đồ giả. Giảo cổ lam 7 hoặc 9 lá. Mọc ở độ cao 2000 m mới quý.
Cũng có khi, họ đã lấy hết hoạt chất, rồi bơm vào thứ bã đó các loại hóa chất đánh lừa vị giác. Hoặc họ bán sang Việt Nam thứ cùng họ với ba kích mà thôi. Điều đáng buồn là rừng núi nước ta từng có nhiều ba kích, nhưng giờ lại chỉ toàn uống rượu ngâm ba kích Tàu.
Theo ông Trần Ngọc Lâm, ông biết sử dụng giảo cổ lam để trị bệnh từ trước khi các nhà khoa học Việt Nam công bố tìm thấy loài cỏ này và nghiên cứu về nó. Hồi trị ung thư phổi ở Tây Tạng, ông thấy các nhà sư sử dụng giảo cổ lam rất phổ biến. 
Theo các nhà sư Tây Tạng, chỉ có 2 loại giảo cổ lam, gồm 7 lá và 9 lá, hình dáng thân dây khác biệt hoàn toàn với các loại khác, mới được coi là giảo cổ lam thực sự. Loại giảo cổ lam này mọc hoang dã trên núi đá granit, ở độ cao trên 2.000m, mới có tác dụng chữa bệnh. Giảo cổ lam này có hàm lượng Saponin cao và nhiều hoạt chất quý khác.
Việc khai thác giảo cổ lam cũng là bí quyết của các nhà sư Tây Tạng. Họ chỉ khai thác giảo cổ lam vào mùa nhất định và thời điểm nhất định trong ngày. Các nhà sư cắt cả thân cây, để lại gốc cho cây lên tiếp. 
Những dây giảo cổ lam được phơi ngoài trời đến khi héo, khô. Sau đó, họ tuốt bỏ lá, rồi mới chặt thân giảo cổ lam thành từng đoạn ngắn để chế biến thuốc. Theo ông Lâm, nếu chặt tươi đem phơi, thì nhiều thành phần quý sẽ bị mất đi. Ngoài ra, hàm lượng dược trong lá cũng thấp hơn thân rất nhiều, nên bỏ đi.
Chế biến giảo cổ lam và phối hợp với các thảo dược khác để bổ sung tính năng, tăng cao dược tính là bí quyết của các nhà sư Tây Tạng, mà đến cả người Trung Quốc cũng chưa biết đến. 
Theo ông Lâm, ông đã học được nhiều bí quyết từ các nhà sư Tây Tạng, kết hợp giảo cổ lam với một số thảo dược khác, biến những thảo dược bình thường thành thần dược, quý hơn cả nhân sâm. Bởi vì, những thảo dược đó không chỉ bồi bổ cơ thể như nhân sâm, mà còn chữa bệnh như thuốc.
Giảo cổ lam chính là chất độn, nhưng là chất dẫn thuốc cực kỳ hiệu quả trong trà Trường Sinh Thang, thứ trà mà các nhà sư Tây Tạng sử dụng như nước uống, như trà mạn hàng ngày. Thứ trà ấy có tác dụng mạnh trong việc giải độc cơ thể, tăng cường chức năng gan, bồi bổ cơ thể, đặc biệt là đào thải tế bào tự do, ngừa ung thư…
Bao năm qua, ông Trần Ngọc Lâm đều phải tự thu hái giảo cổ lam trong rừng sâu và trung thành với cách chế biến, thu hái của các nhà sư Tây Tạng. Ông đã đưa được thứ trà thuốc thần kỳ này về Việt Nam, cho người Việt dùng. Ông Lâm cho biết: “Tiếc rằng nguồn thảo dược ở Việt Nam ít quá, nên tôi chỉ sản xuất được một số lượng rất nhỏ. Giá như, người Trung Quốc không thu mua sạch thảo dược quý, có được nhiều nguyên liệu, sản xuất được trà Trường Sinh Thang cho người dân cả nước dùng với giá rẻ, thay cho trà mạn thì tốt biết mấy…”. 
Hơn 10 năm nay, ông Trần Ngọc Lâm chuyên tâm gieo trồng, nhân giống các loại thảo dược quý mà các thiền sư Tây Tạng truyền thụ cho. Ông Lâm đã có chút ít nguyên liệu để làm ra loại trà mà ông gọi là Trường Sinh Thang, đủ cung cấp cho khoảng 1000 người dùng như nước uống hàng ngày. 
Đây là loại trà đặc biệt mà các thiền sư Tây Tạng sử dụng từ hàng ngàn năm qua, gồm các loại thảo dược quý như: Tiết trúc sâm, mộc hoàng cô, thúc cốt lam, địa tàng thiên, giảo cổ lam, ngũ da bì gai…
Theo ông Trần Ngọc Lâm, trà Trường Sinh Thang là tinh chất của các loại thảo dược mà các thiền sư Tây Tạng chế biến thuốc chống ung thư. Trà này có tác dụng giải độc mạnh, đào thải tế bào lạ, có tác dụng mạnh với mỡ máu, gan mỡ, huyết áp cao, mệt mỏi…
                                      Trích: Phong Bình - IE
15.. Bài thuốc chữa ung thư vú
Thang thuốc dân gian gồm có 9 đọt rau trai, 3 tép tỏi, 9 tép hành lá, một cục phèn chua bằng ngón chân cái. Đem nghiền nát và trộn đều tất cả các thứ lại với nhau, sau đó đem bó vào tay của người bệnh trong vòng 3 ngày. Nếu người đau ở ngực phải thì bó vào cổ tay trái và ngược lại. Nói cách khác, đây là phép trị “đau Nam chữa Bắc”. Bài thuốc sẽ hiệu nghiệm hơn khi bệnh nhân không được biết trước và không được để bệnh quá lâu (có nghĩa là khi bệnh chưa di căn).  
Lý giải công dụng của bài thuốc 
Rau Trai có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm rất tốt, mà trong chứng nhũ nham (ung thư vú) là do nhiệt độc lâu ngày tích thành. Hành và tỏi là những chất kháng sinh, tiêu viêm tự nhiên được sử dụng rộng rãi trong các bài thuốc dân gian. Đặc biệt, tỏi có 3 hoạt chất chính là allicin, liallyl sulfide và ajoene. Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng tốt trên hệ tim mạch mà còn tác động lên tế bào ung thư, giúp ngăn chặn sự phát triển của nhiều loại khối u ác tính. Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ấm, quy 2 kinh Can, Vị.  Tỏi có tác dụng khai khiếu, trừ phong hàn, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt (ung sang), hạch. Phèn chua theo Đông y có tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt táo thấp, làm lành vết thương, làm tăng tác dụng chữa bệnh của bài thuốc.
Chý ý: 
-           Mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
-           Trong đoạn trích có nêu không nên cho bệnh nhân biết vì lo bệnh nhân không tin tưởng vào bài thuốc đơn giản này. Khi bệnh nhân có niềm tin vào việc chữa trị, tinh thần phấn chấn, cơ thể bệnh nhân sẽ tự tiết Morphine nội sinh Endorphin giúp tăng cường sức đề kháng, giảm cơn đau, hỗ trợ quá trình chữa bệnh. Chính vì vậy mới khuyên các bệnh nhân nên giữ tinh thần lạc quan, tin thầy, tin thuốc chính là vậy.
(Đây là bài thuốc truyền miệng theo kinh nghiệm dân gian. Tùy theo thể trạng từng bệnh nhân mà nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc khi sử dụng).
  Phỏng theo Phương Oanh (Thọ Xuân Đường)

16..Fucoidan tiêu diệt tế bào ung thư

Fucoidan là thành phần tự nhiên được chiết xuất trong tảo nâu Mozubu và Mekabu. Các nhà khoa học đã chứng minh được thuốc Fucoidan Nhật Bản có khả năng điều trị và chữa bệnh Ung Thư như: ung thư vú, ung thư phổi...và một số bệnh ung thư khác.
Fucoidan – từ dùng để chỉ một nhóm polysaccarit (polysaccharides) có chứa nhiều đường fucoza sunfat. Đây là môt hợp chất chống oxy hóa được chiết xuất từ thành phần chất nhờn “sliminess” của tảo nâu Mozuku (Cladosiphon okamuranus) and Mekabu (phần cuốn nằm gần gốc của Wakame). Cấu trúc hóa học của Fucoidan là một chuỗi dài polusaccharides giàu sulfate fucose. Giáo sư Kylin.H.Z của đại học Uppsala Thụy Điển, vào năm 1913 đã điều chế thành công Fucoidan từ tinh chất nhờn của Kombu và đặt tên là Fucoidin. Sau đó, hiệp hội đặt tên cho tinh bột thế giới đồng ý đổi tên Fucoidin thành Fucoidan.
1  Dẫn đường cho tế bào ung thư quay trở lại quá trình tự hủy diệt tế bào Apoptosis.
2. Tế bào ung thư cần chất dinh dưỡng và oxy để di căn, vì vậy chúng gửi tín hiệu để tạo mạch máu mới. Một khi mạch máu mới của tế bào ung thư được hình thành quanh tế bào thì chúng gây di căn ra những vùng khác. Vì vậy, khi ngăn chặn việc hình thành mạch máu mới, tế bào ung thư không thể lấy chất dinh dưỡng, oxy và không thể gây di căn.
3. Nâng cao thể trạng, tăng cường hệ miễn dịch cho các bệnh nhân K giai đoạn cuối. Kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân thêm nhiều năm.
4. Chống lại sự tái phát ung thư sau điều trị.
Có thể sử dụng Fucoidan để dự phòng bệnh K và đột quỵ. Uống 2-3 viên / ngày, chia làm 2-3 lần, sử dụng sau ăn 30 phút.
Bệnh nhân giai đoạn 3b cận 4 sẽ sử dụng Fucoidan trong 2 giai đoạn:
- Giai đoạn tích cực (thông thường 4-6 tháng): Sử dụng số lượng Fucoidan từ 3-8 g / ngày để tăng khả năng tiêu diệt tế bào Ung thư, ức chế hình thành mạch máu nuôi tế bào K. (tương đương 10-12 viên thuốc, chia 4 lần sau ăn)
- Giai đoạn ổn định: Sử dụng lượng Fucoidan từ 1-2 g / ngày để phòng bệnh tái phát. (tương đương 6-8 viên thuốc, chia 4 lần sau ăn).
Giá có hộp lên tới 7 triệu VND, và vẫn còn tranh cãi là thuốc hay TPCN (?).
  http://fucoidannhatban.vn/fucoidan-tri-benh-ung-thu.html                
 
17.. Những lợi ích bất ngơ từ mãng cầu xiêm

Loại cây chữa ung thư còn hơn cả hóa trị này vừa được Eat Health Plans công bố tác dụng điều trị, loại cây có rất nhiều ở Việt Nam. Thế mà chúng ta không hề biết đấy các bạn ạ.

Mãng cầu xiêm là loại quả rất quen thuộc với người Việt, nó không chỉ giàu dưỡng chất mà cả vỏ, lá và rễ của nó cũng có nhiều lợi ích cực tốt đối với sức khỏe. Ít ai biết rằng, chỉ với vài chiếc lá mãng cầu xiêm, bạn đã nắm trong tay một phương thuốc chữa được vô số bệnh:
1. Dùng lá mãng cầu xiêm chữa chàm
Lấy lá mãng cầu xiêm nghiền nát, rồi đắp hoặc chà xát lên vết chàm. Nhờ tác dụng chống viêm, lá mãng cầu xiêm sẽ giúp cải thiện tình trạng nhanh chóng mà không hề để lại bất cứ tác dụng phụ nào.
2. Dùng lá mãng cầu xiêm chữa chứng phong thấp
Cũng nhờ tác dụng như một chất chống viêm, lá mãng cầu xiêm rất tốt để điều trị thấp khớp. Bạn chỉ cần đun sôi lá cây, rồi nghiền nát lá để tạo hỗn hợp sền sệt. Sau đó, đắp hỗn hợp này vào vị trí các khớp đau với tần suất 2 lần/ ngày, chắc chắn bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng.
3. Dùng lá mãng cầu xiêm chữa nhiễm trùng đường tiết niệu
Nhiễm trùng đường tiết niệu là ám chỉ chung tất cả các bệnh nhiễm khuẩn bàng quang, niệu quản, thận, niệu đạo. Bạn chỉ việc hãm lá mãng cầu xiêm với nước sôi, uống như trà hằng ngày sẽ giúp chữa lành hoàn toàn nhiễm trùng đường tiết niệu.
4. Dùng lá mãng cầu xiêm chữa Gút
Gút là nỗi kinh hoàng của nhiều người bởi ai bị sẽ rất đau đớn. Bạn lấy lá mãng cầu xiêm hãm với nước sôi, uống như trà mỗi ngày, đảm bảo bệnh sẽ thuyên giảm đáng kể.
5. Lá mãng cầu xiêm tăng cường hệ miễn dịch
Nếu thường xuyên bị cúm, cảm lạnh hay nhiễm trùng, thì rất có thể hệ miễn dịch của bạn đang bị suy giảm. Uống trà từ lá mãng cầu xiêm sẽ giúp bạn tăng cường hệ miễn dịch và khỏi bệnh một cách nhanh chóng.
6. Dùng lá mãng cầu xiêm để điều trị ung thư
Tác dụng quan trọng nhất của lá mãng cầu xiêm chính là điều trị ung thư. Nhiều chuyên gia y tế khẳng định rằng, uống nước trà hãm từ lá mãng cầu xiêm là cách điều trị ung thư hiệu quả hơn cả hóa trị hay xa trị. Đặc biệt, lá mãng cầu xiêm còn tốt cho cả ung thư phổi, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt. Hơn nữa, cách điều trị ung thư này không hề để lại bất cứ tác dụng phụ nào.
-Để có được phương thuốc thần kỳ từ lá mãng cầu xiêm, bạn lấy 4-5 lá mãng cầu xiêm còn tươi, rửa với nước cho sạch, đổ 3 bát nước vào nồi rồi đun thật sôi đến khi nào chỉ còn 2/3 lượng nước. Để nước trà nguội một chút rồi uống. Nên làm để uống hằng ngày.

                                                                            http://qtcs.com.vn/
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét